CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ INTERNET BANKING 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Internet Banking Trên thế giới, khái niệm này đã được hình thành và phát triển từ khá lâu vào khoảng từ đầu những năm 1980. Theo bài tổng hợp “History of Online Banking” trên Yodlee, năm 1983, internet banking lần đầu tiên được đề xuất ở Uk khi The Bank of Scotland đã giới thiệu dịch vụ này đến với khách hàng của họ và gọi đó là “Homelink” thông qua việc kết nối với tivi hay điện thoại để chuyển khoản và thanh toán hoá đơn, dịch vụ này đã được hình thành như nền tảng cho online banking mà chúng ta biết đến như ngày nay. Đến năm 1994, online banking đã được tích hợp vào phần mềm cá nhân “Microsoft Money”, 100.000 tài khoản online bắt đầu được truy cập và The Stanford Credit Union cũng lần đầu tạo ra một website cho online banking. Ngay nay, Internet Banking (hay còn gọi Online Banking) đã trở nên khá quen thuộc với người dùng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.2 Các khái niệm về Internet Banking 1.1 Electronic Money Tiền điện tử (Electronic Money) là tiền chỉ tồn tại trong hệ thống các máy tính ngân hàng và không được giữ dưới bất kỳ hình thức vật lý nào.
Ở Hoa Kỳ, chỉ có một phần rất nhỏ tiền tệ được lưu hành dưới dạng vật lý. Nhu cầu về tiền mặt đã giảm khi ngày càng nhiều người sử dụng các lựa chọn tiền điện tử thay cho tiền mặt. Tiền điện tử (còn được gọi là e-currency, e-money , electronic currency, electronic cash, digital money, digital currency, digital cash, , cyber currency…) là tiền chỉ được trao đổi điện tử. Thông thường, điều này liên quan đến việc sử dụng mạng máy tính, internet và các hệ thống giá trị được lưu trữ kỹ thuật số.2 Electronic Banking Ngân hàng điện tử (Electronic Banking): là một thuật ngữ chỉ quá trình khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng điện tử mà không cần thông qua tổ chức, đơn vị giao dịch truyền thống.
Tất cả các thuật ngữ sau đây đề cập đến một hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thức hoặc hình thức ngân hàng điện tử khác: ngân hàng máy tính cá nhân (PC), Internet banking, ngân hàng ảo (virtual bank), ngân hàng trực tuyến (online banking), ngân hàng di động (mobile banking)…. PC và Internet bank hoặc Online Banking là những thuật ngữ được sử dụng thường xuyên hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các thuật ngữ được sử dụng để chỉ các loại ngân hàng điện tử khác nhau và thường được sử dụng thay thế cho nhau.3 Internet Banking Internet Banking (iBanking), đôi khi được gọi là Online Banking, là một dịch vụ ngân hàng điện tử (E-Banking) cho phép các khách hàng quản lý tài khoản, thực hiện các giao dịch như chuyển tiền online, gửi tiền tiết kiệm online, thanh toán hóa đơn, các dịch vụ tài chính, nạp tiền, nộp thuế. thông qua thiết bị kết nối Internet.
Theo Justin Pritchard: “Internet Banking cung cấp cho bạn khả năng quản lý tiền trực tuyến bằng thiết bị di động hoặc máy tính của bạn. Ở đó, bạn không cần phải đến chi nhánh ngân hàng và bạn có thể làm những gì bạn cần làm khi nó thuận tiện nhất cho bạn. Chúng có thể dễ sử dụng hơn, chúng thường có lãi suất cao hơn, chúng miễn phí hoặc rẻ tiền, và chúng tốt hơn để theo dõi chi tiêu.” Bankrate - Trang web tài chính cá nhân nổi tiếng của công ty dịch vụ tài chính LLC nổi tiếng của Mỹ cũng định nghĩa rằng: “Internet Banking được truy cập thông qua trình duyệt web và ứng dụng di động, cung cấp cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng từ bất kỳ nơi nào có quyền truy cập vào internet. Các ngân hàng Internet thường không cung cấp dịch vụ ATM của riêng họ, mặc dù họ thường làm việc với các ngân hàng và tổ chức khác để cung cấp quyền truy cập ATM miễn phí hoặc phí thấp cho khách hàng của họ.” Tại Việt Nam, theo thông tư 35/2016/TT-NHNN ngày 29/12/2016, thay thế cho thông tư 29/2011/TT-NHNN, thuật ngữ Internet Banking được định nghĩa một cách ngắn gọn lại như sau: “ Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet.4 Mobile banking Mobile banking: là một ứng dụng được sử dụng trên các thiết bị di động giúp người dùng thực hiện các giao dịch với ngân hàng.
Ứng dụng này sẽ cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích giúp người dùng không cần phải đến trực tiếp các địa điểm, chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện các giao dịch cơ bản như: Chuyển tiền, Thanh toán các loại hóa đơn (điện, nước, vé máy bay,…), Đăng ký mở thẻ, sổ tiết kiệm online, Kiểm tra số dư…. Chỉ cần download ứng dụng Mobile Banking của ngân hàng từ các thiết bị điện thoại thông minh và đã đăng ký sử dụng dịch vụ tại ngân hàng là đã có thể sử dụng. (Nguồn: A General View on the E-banking -F.Sameni Keivan)) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tóm lại, Internet Banking và Mobile Banking đều nằm trong dịch vụ tổng thể ngân hàng điện tử (E-banking), là những khái niệm tuy khác nhau nhưng có nhiều điểm tương đồng. Nhìn chung, đó là một giải pháp mà các ngân hàng cung cấp hầu hết các dịch vụ của mình như quản lý tài khoản, chuyển tiền, gửi tiết kiệm, thanh toán, mua bán ngoại tệ… được thực hiện trên máy tính (PC) hay các thiết bị di động khác khi được kết nối internet.
Các giao dịch trực tuyến được thực hiện một cách tiện lợi và nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi mà không cần đến giao dịch trực tiếp tại các địa điểm giao dịch của ngân hàng như trước đây. Ở góc độ của người tiêu dùng Việt Nam, các khái niệm này đang được sử dụng thay thế cho nhau và hầu hết các ngân hàng trong nước cũng đang phát triển dịch vụ này với một thuật ngữ chung phổ biến là Internet Banking và gọi dịch vụ này bằng một tên riêng đặc trưng cho từng ngân hàng để phân biệt với những ngân hàng khác như ACB Online, Vietcom-ibanking… 1.3 Các tiện ích của dịch vụ Internet Banking Internet Banking là dịch vụ ngân hàng được thực hiện thông qua mạng Internet. Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ này có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng như chuyển khoản, thanh toán các hóa đơn, truy vấn thông tin số dư tài khoản, liệt kê giao dịch…thông qua các thiết bị có kết nối internet mà không cần trực tiếp đến giao dịch tại quầy. Do đó, để sử dụng Internet Banking, khách hàng cần có máy tính hoặc các thiết bị có thể truy cập mạng.
Internet Banking cho phép các khách hàng có thể thực hiện nhiều giao dịch với ngân hàng chỉ cần kết nối thông qua mạng Internet ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào. Internet Banking cung cấp đến khách hàng rất nhiều những tiện ích và tính năng giao dịch một cách nhanh chóng và linh hoạt: - Chuyển khoản cùng hoặc khác hệ thống ngân hàng. - Truy vấn thông tin của tất cả các tài khoản. - Tra cứu thông tin giao dịch, tỷ giá, lãi suất… - Thanh toán các hóa đơn dịch vụ như: tiền điện, tiền nước….
- Thanh toán thẻ tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Thanh toán tiền mua hàng online. - Các sản phẩm tiết kiệm, tiền gửi trực tuyến. - Các tính năng chuyên sâu khác như: chuyển đổi ngoại tê, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, mở thư tín dụng, vay trực tuyến…và nhiều tiện ích khác.
Hiện nay, những tiện ích chuyên sâu và đòi hỏi những nghiệp vụ tương đối phức tạp như thanh toán quốc tế, mở thư bảo lãnh, vay …của dịch vụ Internet Banking vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu nhiều tại các NHTM Việt Nam, chỉ được một số ngân hàng khai thác,các tiện ích này chủ yếu chỉ có ở những ngân hàng 100% vốn nước ngoài.4 Những hạn chế của dịch vụ Internet Banking Nguồn vốn đầu tư lớn, mức độ rủi ro cao, một số dịch vụ không thể triển khai trên Internet Banking và cần một khoản chi phí từ khách hàng là những hạn chế của dịch vụ Internet Banking (Al-Sukkar và Hansan, 2005) Nguồn vốn đầu tư lớn: Internet Banking dựa trên nền tảng của công nghệ số, để xây dựng một hệ thống ngân hàng trưc tuyến cần một nguồn vốn đầu tư không hề nhỏ được tính bằng đơn vị triệu USD để có thể lựa chọn được công nghệ nền tảng hiện đại, phù hợp với định hướng phát triển của mỗi ngân hàng. Ngoài ra, còn phải kể đến chi phí duy trì, bảo trì hệ thống, chi phí cho hệ thống dự phòng, phát triển công nghệ hiện tại và đổi mới công nghệ trong tương lai… Đây là nguồn lực mà không phải tổ chức nào cũng có thể sẵn sàng đáp ứng được. Mức độ rủi ro cao: Trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển nhưng rủi ro tiềm ẩn cũng ngày càng nhiều, ngay cả những tổ chức công nghệ hàng đầu trên thế giới cũng hàng ngày đối diện với nguy cơ an toàn và bảo mật của an ninh mạng. Những hành vi ăn cắp bằng công nghệ cao như “hacker”, mã độc, phát tán virus máy tính, phần mềm gián điệp… là những nguy cơ thường trực đe dọa đến sự an toàn của một hệ thống công nghệ, đặc biệt hơn là công nghệ của các ngân hàng.
Bên cạnh đó, những hành vi gian lận, giao dịch lừa đảo, rủi ro từ chính sự không cảnh giác của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 người sử dụng như để lộ thông tin đăng nhập, mật khẩu, mã xác thực… cũng là một trong những nguy cơ thường xuyên gây mất an toàn tài chính mà các ngân hàng phải thường xuyên cảnh báo và đưa ra nhiều phương thức để xác thực giao dịch. Trên thế giới và ngay tại Việt Nam những hành vi gây mất an toàn và gây thiệt hại tài chính cho người sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử không phải là hiếm. Các ngân hàng đầu tư phát triển nền tảng ngân hàng điện tử luôn trong tâm thế sẵn sàng đối đầu với vấn đề an toàn và bảo mật. Có nhiều dịch vụ tài chính chưa thể và không thể cung cấp thông qua ngân hàng số, hiện nay các dịch vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán quốc tế, Séc du lịch, bán ngoại tệ cho khách hàng… với những quy định pháp lý chặt chẽ, những nghiệp vụ đặc thù và chuyên sâu nên vẫn rất hạn chế được triển khai trên hệ thống ngân hàng số ở Việt Nam.