Chương 1: Khái quát lịch sử hình thành cộng đồng người Việt ở Campuchia 1. Thời phong kiến Từ đầu thế kỷ XVII, Việt Nam và Campuchia (lúc đó gọi là Chân Lạp) đã có mối quan hệ bang giao. Khi chúa Nguyễn đến Sài Gòn, ở đây đã có nhiều dan tộc cư trú, trong đó có dân tộc Khmer. Năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) đã ga con gái mình là Công chúa Ngoc Van cho Quốc vương Chey Chettha II (1618-1628) làm hoàng hậu.
Về phần mình, Chey Chettha II cũng muốn thông qua mối quan hệ này để củng cô thế lực nhằm chống lại quân Xiêm. “Năm 1623 (đầu thế kỷ XVII) khi nhà Nguyễn quản lý ở miền Nam, một bộ phận người Việt ban đầu đã đến định canh, định cư ở vùng giáp ranh biên giới giữa miền Nam Việt Nam với Campuchia, nhưng sau đó, nhà vua Angso (lấy danh hiệu là BotumReachia) đã thỏa thuận với chúa Nguyễn cho người Việt Nam đến định cư ở Campuchia, hưởng quyên lợi ngang hang với người Khmer”. Một bộ phận nhỏ người Việt đã đến định cư ở các huyện Peamchor, KohThom, Prek Dack, Chroy Changva, U Dong. Còn về đường bộ, một bộ phận người Việt đếnCampuchia theo đường số 1 từ Prasot, Trabek, Ba Nam, thuộc tả ngạn sông Mê Công.
Sau năm 1658, nhiều người Việt Nam, nhất là những người trong bộ máy quân sự, hành chính của chúa Nguyễn đã có mặt ở Campuchia. Nhiều người trong số họ đã được bồ nhiệm vào bộ máy hành chính của triều đình Campuchia. Cùng với những người Việt trong bộ máy dân sự, còn có một bộ phận cư dân khác sang làm ăn sinh, sinh sống ở Campuchia. Họ chính là những thương gia người Việt sang làm ăn buôn bán ở đây.
Vào đầu thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn tiếp tục giúp các vương triều Campuchia 2 lần đánh thắng quân Xiêm năm 1714, 1719. Khi Xiêm chiếm vùng Tây Nam Campuchia rồi đánh xuống vùng ' Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến khối Việt kiều Campuchia yêu nước, 2004, Tư liệu lịch sử về phong trào Việt kiêu yêu nước ở Campuchia, Nxb.Mũi Cà Mau,Tr.9-13 11 Hà Tiên đều bị chúa Nguyễn đánh đuổi bỏ chạy về nước (hiện di tích lịch sử còn ghi lại ở Rolackanchơn phía Bắc đường 4 Campuchia), một bộ phận người Việt tiếp tục sang Campuchia định cư theo các ngả trên mỗi ngày một tăng lên. Bên cạnh đó, vào thời điểm này, số người Việt Nam đến buôn bán ở Chân Lạp cũng tăng lên một cách đáng kê. Đặc biệt sau khi lên ngôi, “vua Minh Mệnh chủ trương lập trấn Tây Thành thì người Việt Nam sang làm ăn, buôn bán ở Chân Lạp ngày càng đông.
Vua Minh Mệnh ban hành nhiều đạo dụ khuyến khích người Việt sang làm ăn buôn bán ở Chân Lạp””. Việc triều Nguyễn khuyến khích và tạo điều kiện cho người buôn bán của Việt Nam và Chân Lạp thông thương qua lại đã tạo nên một cộng đồng người Việt đến làm ăn sinh sống ở Campuchia sau năm 1835 tăng lên đáng kể. Thời kỳ Pháp thuộc Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, cư dân người Việt sang làm ăn, sinh sống ở Campuchia ngày một đông. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa, đã đưa hàng vạn lao động, công nhân người Việt sang các đồn điền cao su, các công trình xây dựng đường sá, cầu cống.
Thời kỳ này có một số luồng di dân chủ yếu sau: Những người di dân tự do: Sau khi chiếm toàn bộ ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (1887), thực dân Pháp đã biến ba quốc gia có chủ quyền thành các khu vực trực thuộc toàn quyền Đông Dương, biên giới quốc gia biến thành các biên giới hành chính, nhờ đó việc đi lại giữa ba nước trong đó có sự đi lại giữa Việt Nam và Campuchia cũng trở nên dễ dàng. Nhiều người Việt vì hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói, thiểu ruộng vườn đất đai canh tác tại quê hương bản quán, nhất là các tỉnh giáp ranh với Campuchia đã tìm mọi cách sang Campuchia làm ăn, sinh sống. Một bộ phận lớn người Nam Bộ sang Campuchia đánh bắt thủy sản ? Đại Nam thực lục chính biên, 2007, Nxb Giáo dục, Kỳ thứ hai 12 dọc theo sông Mê Công, sông Tonle Sap và Biển Hồ nên số lượng người Việt ở Campuchia tiếp tục tăng lên. Những người di dân có tổ chức, do thực dân Pháp thực hiện: Nhómnày cũng được chia thành hai bộ phận, tùy thuộc vào điều kiện học vấn, điều kiện kinh tế.
Nhóm thứ nhất tham gia bộ máy công chức của Pháp; nhóm thứ hai tham gia vào công việc khai thác thuộc địa. Số lượng người Việt ở Campuchia trong thời kỳ Pháp thuộc được công bố không thống nhất. Theo thống kê trong Tư liệu lịch sử về phong trào Việt kiều yêu nước ở Campuchia“năm 1902 có khoảng 63.222 người, năm 1932 có trên 225.100 người, năm 1945 có trên 300. Thời kỳ Campuchia độc lập Thời kỳ Sihanouk cam quyển: 1953-1970 Sau khi Campuchia giành được độc lập từ tay Pháp vào năm 1953, nha cầm quyền Campuchia nỗ lực điều chỉnh hoạt động của các cộng đồng nhập cư trong nước, trong đó có người Việt.
Campuchia buộc đa số họ phải nhập tịch Campuchia. Quan hệ của Campuchia với hai chính quyền Việt Nam trở thành van đề ngày càng gây quan ngại khi chiến tranh Việt Nam leo thang vào thập niên 1960, kéo theo sự gia tăng quan điểm chống người Việt. Khó có thê xác định chắc chắn quy mô của cộng đồng người Việt do những tiêu chuẩn được áp dụng dé phân loại các nhóm sắc tộc là khác nhau. “Theo các cuộc điều tra dân số chính thức dùng quốc tịch làm cơ sở phân loại chăng hạn thì có 217.774 người Việt vào năm 1962.
Ước tinh đáng tin cậy nhất thé hiện số người Việt tại Campuchia là khoảng 450.000 vào cuối những năm 1960, trên A„;»›4 tong dân số khoảng 7. * Câu lạc bộ truyền thong kháng chiến khối Việt kiều Campuchia yêu nước, 2004, Tư liệu lịch sử về phong trào Việt kiêu yêu nước ở Campuchia, Nxb.Mti Cà Mau,Tr.9-13 4 Tổng hội người Campuchia gốc Việt Nam, Báo cáo tình hình cộng đồng giai đoạn 2003-2013. 13 Thời kỳ Cộng hòa Khmer: I970 - 1975 Sau khi Lon Nol đảo chính Norodom Sihanouk thang 3/1970, chính thê Cộng hòa Khmer được thành lập. Việc phế truất được tiễn hành khi một chiến dịch tuyên truyền chống người Việt đang diễn ra.
Trên thực tế, chỉ trích đối với Sihanouk phần lớn tập trung vào lập trường được cho là ủng hộ người Việt của ông. Chiến dịch tuyên truyền chống lại Cộng đồng người Việt sớm chuyền thành các cuộc bạo động và tấn công khắp đất nước Campuchia. Nhà cửa, thuyền bè, tài sản và các đền thờ tôn giáo của người Việt bị tấn công. Văn phòng và nơi ở tại Phnom Penh của các đại diện ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam bị cướp phá.
Bạo lực chống lại người Việt leo thang khi các phần tử thuộc lực lượng vũ trang và cảnh sát tham gia vào các vụ tan công và tan sát. Day là nguyên nhân gây nên cái chết của hàng nghìn người Viét.“Thay vì bảo vệ người Việt, nhà cam quyền mới của Campuchia đề xuất nhiều biện pháp phân biệt đối xử. Người Việt chỉ được phép đi lại từ 7 đến 11 giờ sáng, ho không thé đến trường và đi làm. Ngư dân người Việt bị thu hồi giấy phép đánh bắt.
Các tổ chức công và tư cũng như những người sống trong nhà ở thuộc sở hữu nhà nước bị cắm thuê mướn lao động người Việt. Ngoài ra, nhà cam quyền khuyến cáo không được dùng tiếng Việt nơi công cộng””. Trước sự việc này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã can thiệp một cách chính thức. Nhà cầm quyền Campuchia dần nhận thức được hậu quả tiêu cực của các vụ tấn công nhằm vao người Việt và điều này đã kéo theo một sự thay đổi về quan điểm.
Nhà cam quyền Campuchia kêu gọi người dân tích cực bảo vệ người Việt trên tinh thần duy trì mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân hai nước. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Campuchia đã đạt được một thỏa thuận về vấn đề người Việt ở Campuchia vao ngày 27/5/1970. > Daniel Phan, Cambodia’s Ethnic Vietnamese Seek Tribunal Justice, Jakarta Globe, 15/3/2012 14 Bất chấp những tín hiệu mới, người Việt tiếp tục trỗn chạy khỏi nơi ở cua mình va tìm nơi ở trong 18 trại ti nạn tại một số thành phó của Campuchia - chủ yếu là ở Phnom Penh - nham đương đầu với dòng người ti nan trong nước. Tháng 5/1970, lượng người trong các trại tị nạn lên đến con số đỉnh điểm 90.
Từ thang 5 - tháng 8/1970, số người ti nạn này được trả về Việt Nam. Ngày 13/8/1970, trại ti nan cudi cung bi dong cua tai Phnom Penh. Tuy nhiên, cuộc di cư của người Việt từ Campuchia vẫn tiếp tục và tới “cuối tháng 9/1970, tổng cộng 197.378 người Việt đã chính thức trở về Việt Nam. Theo Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, 28% số người hồi hương tuyên bố họ là công dân Campuchia.
Trên thực tế, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ước tính 300.000 người Việt sống ở Campuchia trước cuộc di tản đã mang quốc tịch Campuchia. Tháng 3/1971, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa chính thức ước tính khoảng 250.000 người Việt từ Campuchia đã được hồi hương ”ô. Thời kỳ Campuchia Dân chủ: 1975 - 1979 Sau cuộc chiến tranh lâu đài và gian khổ, Chính phủ Hoàng gia của Liên minh Quốc gia Campuchia do Đảng Cộng sản Campuchiadẫn dắt đã chiếm được thủ đô Phnom Penh vào ngày 17/4/1975 và đánh bại Cộng hòa Khmer. Đảng Cộng sản Campuchia dan kiểm soát toàn bộ quyền lực chính tri trong nước.
Đất nước được đổi tên thành Campuchia Dân chủ. Người Việt tiếp tục phải di tản khi có khoảng 170.000 người bị trục xuất khỏi Campuchia vào năm 1975. Ước tính có khoảng 200.000 người Việt vào giữa thập niên 1970, như vậy chỉ còn khoảng 30.000 người còn lưu lại Campuchia và đa số chết vì đói khát, bệnh tật hoặc bị hành hình trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1978. Điều nay có nghĩa là người Việt hầu như hoàn toàn biến mat khỏi Campuchia.
Thời ky Cộng hòa Nhân dân Campuchia: I979 -1992 6 Nghiencuuquocte.org, 25/02/2014 15 Sau khi chế độ Campuchia Dân chủ sụp đồ vào ngày 07/01/1979, nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchiađược thành lập và sau đó đổi tên nước thành Nhà nước Campuchia (1989). Thời kỳ của Cộng hòa Nhân dân Campuchia/Nhà nước Campuchia kéo dài trên thực tế cho đến khi thành lập UNTAC vào tháng 3/1992.