Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp và chi bảo hiểm thất nghiệp Chương 2: Thực trạng chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Tổng quan về chi Bảo hiểm thất nghiệp 1. Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp 1. Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp trên thế giới Châu Âu là cái nôi của tất cả các loại hình Bảo hiểm trong đó có BHTN.
BHTN ra đời năm 1893 tại Thụy Sỹ trong một nghề khá phổ biến như: Nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh, nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoản hai mươi đến ba mươi công nhân. Do có tính chất thời vụ, các công xưởng chỉ sản xuất trong một thời gian nhất định. Thời gian còn lại các công nhân phải nghỉ việc không có việc làm và bị thất nghiệp do đó các công nhân phải đi tìm các công việc khác dẫn đến trong các năm tiếp theo các công xưởng không có lao động kỹ thuật cao. Năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sỹ đã cùng nhau lập ra quỹ doanh nghiệp để trợ cấp cho các công nhân nghỉ việc vì lý do thời vụ.
Trong thời gian nghỉ việc NLĐ vẫn có một khoản thu nhập từ trợ cấp để trang trải cho cuộc sống do đó áp lực tìm kiếm công việc mới không cao và họ vẫn có thể tiếp tục làm việc trong mùa vụ tiếp theo. Sau đó nhiều nghiệp đoàn ở châu Âu bắt đầu thành lập ra quỹ công đoàn với mục đích trợ cấp cho những người công nhân bị nghỉ việc. Thấy rõ được vai trò to lớn của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với cuộc sống của người công nhân, chính quyền địa phương đã cùng nhau liên kết các doanh nghiệp, nghiệp đoàn cùng đóng góp tạo nên quỹ trợ cấp thất nghiệp thực chất đó là quỹ BHTN tham gia đóng góp quỹ lúc này không chỉ có người sử dụng lao động (NSDLĐ) mà cả NLĐ có việc làm không ổn định. Để đảm bảo cuộc sống trong thời gian thất nghiệp thì mức trợ cấp thất nghiệp (TCTN) phải tương đối so với lương và phải đều đặn vì vậy mà quỹ BHTN phải lớn cho nên đã có sự tham gia đóng góp của cả nhà nước.
Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên xuất hiện tại Gioneve 5 Thụy Sỹ vào năm 1893 và sau đó đã lan rộng sang một số nước châu Âu khác. Nhận thức được tác dụng của quỹ BHTN năm 1900 tại Na Uy và 1910 tại Đan Mạch chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHTN tự nguyện và có sự hỗ trợ của chính phủ. Sau đó năm 1911 Vương quốc Anh đã ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp theo là một số nước khác như Đức, Thụy Điển… Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă ban hành Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Dựa trên Công ước 44, nhiều nước đã ban hành và thực hiện chính sách về BHTN.
Tiên phong như Mỹ 1935, Canada 1939. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đặc biệt là sau khi có công ước 102 năm 1952 của ILO thì một loạt các nước trên thế giới đã cùng nhau thực hiện, triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Đến hết năm 1981 trên thế giới có 30 nước đã thực hiện BHTN bắt buộc và có 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện. Tới năm 1992 những con số trên tương ứng là 39 nước và 12 nước.
Đến nay trên thế giới đã có gần 80 quốc gia triển khai BHTN, trợ cấp thất nghiệp. Ở khu vực châu Á một số nước cũng đã thực hiện BHTN như Trung Quốc 1986, Hàn Quốc 1995. Khu vực Đông Nam Á Việt Nam là nước thứ hai thực hiện triển khai chính sách BHTN (2009) sau Thái Lan (2004). Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế xã hội không mong muốn của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam.
Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước. Nhận thức rõ vấn đề này chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp và chính sách nhằm hạn chế ảnh hưởng của thất nghiệp đối với nền kinh tế. Cụ thể như sau: Giai đoạn trước năm 1995: sau khi giành được chính quyền. - Giai đoạn này Chính phủ ban hành trong nhiều văn bản, nhằm giải quyết theo yêu cầu của các cuộc vận động kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế, hoặc đưa công nhân, viên chức về tham gia sản xuất nông nghiệp trong từng thời gian nhất định.
Trong đó, tiêu biểu là thông tư số 88/TTG ngày 01/10/1964 của thủ tướng 6 Chính phủ về “chế độ trợ cấp thôi việc đối với công nhân viên chức”. Thông tư quy định nội dung chế độ trợ cấp thôi việc áp dụng thống nhất trong các ngành, các cấp khi cho công nhân, viên chức thôi việc nhằm giúp đỡ công nhân, viên chức giải quyết một phần khó khăn, tạo điều kiện để họ mau chóng ổn định đời sống và công việc làm mới và các nội dung của thông tư này được áp dụng cho đến năm 1986. - Đến năm 1989 nhà nước triệt để xóa bỏ bao cấp chuyển các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh, sắp xếp lại lao động trong khu vực nhà nước làm cho hàng chục vạn cán bộ nhà nước thất nghiệp. Để giải quyết tình trạng này Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã ban hành quyết định số 176/HĐBT ngày 09/10/1989 về “sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh trên cơ sở phương án sắp xếp lại lao động trong doanh nghiệp được cơ quan thẩm quyền phê duyệt và danh sách lao động dôi dư được nhà nước quy định chế độ thôi việc, chế độ trợ cấp tạm ngừng đối với số lao động này”.
Nguồn trợ cấp do nhà nước đảm bảo 50% và doanh nghiệp đảm bảo 50%. Sau đó ngày 12/04/1991 HĐBT ra quyết định quy định về chính sách đối với người thôi việc chuyển ra ngoài biên chế nhà nước. - Sau khi có pháp lệnh hợp đồng thông tư hướng dẫn số 04/LĐTB&XH ngày 18/03/1993 quy định áp dụng chế độ trợ cấp đối với NLĐ thất nghiệp trong đó quy định cụ thể công nhân viên chức đang biên chế nhà nước nếu thôi việc khi chưa ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) thì được hưởng trợ cấp ở mức 1 tháng lương cơ bản cộng phụ cấp lương với một năm công tác. Đối với NLĐ đã chuyển sang ký HĐLĐ khi chấm dứt hợp đồng còn được hưởng một số quyền lợi khác ngoài trợ cấp một lần.
Giai đoạn 1995 tới năm 2009. Năm 1995 Bộ luật Lao động ra đời (01/01/1995) đã quy định về quyền lợi của NLĐ được hưởng khi bị thôi việc do thay đổi cơ cấu. Nếu không thể sử dụng thì phải trợ cấp cho NLĐ thôi việc ở mức mỗi năm làm việc 01 tháng lương và do quỹ dự phòng của doanh nghiệp chi trả cụ thể: “mỗi năm làm việc là 0,5 tháng lương và phụ cấp lương nếu có”. Tiếp sau đó ngày 19/12/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/CP về “Giải quyết quyền lợi của NLĐ ở doanh nghiệp tuyên bố phá sản”.
Quy định doanh 7 nghiệp bị tuyên bố phá sản phải thanh toán các khoản còn nợ cho NLĐ bao gồm: tiền lương, tiền BHXH, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác… Sau đó năm 2002 đã có hàng loạt các văn bản ra đời để giải quyết lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Trước tình hình đó đòi hỏi cần có một hệ thống các quy định pháp luật một cách khoa học, có hệ thống, ổn định lâu dài và BHTN ra đời. Việc ban hành chính sách BHTN nằm trong khuôn khổ luật BHXH giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cũng như quá trình sửa đổi bổ sung pháp luật lao động nước ta.2006, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và có hiệu lực từ ngày 1.2007 Như vậy, có thể nói các chính sách trên là hình thức sơ khai của BHTN. Đối với NLĐ thuộc diện dôi dư, mất việc trong quá trình chuyển đổi cơ cấu thì những chính sách này giúp họ ổn định cuộc sống và có cơ hội tìm kiếm việc làm mới phù hợp.
Tuy nhiên, những chính sách và biện pháp trên chỉ mang tính chất “Tình thế”, chưa mang tầm chiến lược, lâu dài và chỉ phù hợp trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế. Bởi lẽ theo các chính sách này thì chỉ lao động dư thừa trong doanh nghiệp nhà nước mới được giải quyết còn lao động thất nghiệp trong các thành phần kinh tế khác thì không. Và NLĐ, gia đình họ không có được cuộc sống tối thiểu do mức trợ cấp thấp. Đặc biệt những người trợ cấp một lần thì không có điều kiện hưởng chế độ hưu trí khi về già và là gánh nặng cho doanh nghiệp vì họ thường phải chi trả trợ cấp thôi việc.
Giai đoạn từ năm 2009 – 2014 Tuy Luật BHXH (2006) có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 nhưng chế độ BHTN bắt đầu được thực hiện từ ngày 1/1/2009. Tuy nhiên do có quy định về điều kiện đóng, đó là NLĐ muốn được hưởng BHTN phải đóng từ đủ 12 trở lên, nên bắt đầu từ ngày 01/01/2010 mới thực hiện chi BHTN. Sau đó một loạt các văn bản hướng dẫn dưới luật trên đã quy định cụ thể và chi tiết luật Bảo hiểm xã hội để NLĐ cũng như cơ quan BHXH có thể triển khai và thực hiện các thủ tục về đóng, hưởng 8 BHTN. Đồng thời quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của cơ quan BHXH, NLĐ, NSDLĐ và nhà nước trong việc đóng và chi trả BHTN.
Giai đoạn từ năm 2015 tới nay Sáu một thời gian thực hiện, chính sách BHTN đã bộc lộ nhiều hạn chế về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, tổ chức thực hiện của cơ quan BHXH và bộ LĐTB&XH,… đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung và mở rộng để thực hiện tốt mục tiêu của BHTN. Do đó, ngày 16/11/2013, toàn bộ chế độ BHTN được quy định lại trong Luật Việ ệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.