Thực trạng chi bảo hiểm thất nghiệp ở cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

Chuyên khảo phân tích Thực trang chi bảo hiểm thất nghiệp ở cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố hà nội, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Bảo hiểm xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
113
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1. Tổng quan về chi Bảo hiểm thất nghiệp

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp

1.3. Nội dung cơ bản của Bảo hiểm thất nghiệp

1.4. Khái niệm và bản chất của chi Bảo hiểm thất nghiệp

1.5. Nội dung chi Bảo hiểm thất nghiệp

1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi Bảo hiểm thất nghiệp

1.7. Các chỉ tiêu đánh giá chi bảo hiểm thất nghiệp

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.1.1. Lịch sử hình thành

2.1.2. Mô hình tổ chức

2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ

2.2. Thực trạng chi bảo hiểm thất nghiệp ở bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.2.1. Cơ sở pháp lý của chi bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội Hà Nội

2.2.2. Qui trình chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.2.3. Thuận lợi và khó khăn trong chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.2.4. Kết quả chi bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.3. Đánh giá công tác chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

2.3.1. Đánh giá chung

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Quan điểm, mục tiêu chi bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2015-2020

3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đối với cơ quan BHXH cấp quận huyện trực thuộc

3.2.2. Hoàn thiện trong lập kế hoạch chi Bảo hiểm thất nghiệp

3.2.3. Nâng cao công tác phối hợp giữa các ngành liên quan

3.2.4. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền

3.2.5. Tăng cường quản lý đối tượng chi Bảo hiểm thất nghiệp

3.2.6. Giải quyết tình trạng nợ đọng Bảo hiểm thất nghiệp

3.2.7. Nâng cao công tác hướng dẫn người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp

3.2.8. Nâng cao hiệu quả chi học nghề tại thành phố Hà Nội

3.2.9. Nâng cao trình độ đội ngũ làm cán bộ chi Bảo hiểm thất nghiệp

3.3. Kiến nghị hoàn thiện công tác chi bảo hiểm thất nghiệp ở bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

3.3.2. Kiến nghị với cơ quan, ban ngành Thành phố Hà Nội

3.3.3. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp Hà Nội Khái Niệm

Bài viết này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về chi bảo hiểm thất nghiệp tại Hà Nội. Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, giúp người lao động (NLĐ) vượt qua giai đoạn khó khăn khi mất việc. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và sự hỗ trợ của Nhà nước. Mục tiêu chính là bù đắp một phần thu nhập bị mất, hỗ trợ học nghề, duy trì việc làm và tìm kiếm việc làm mới. Chế độ này lần đầu tiên được quy định tại Luật BHXH năm 2006 và được thực hiện theo Luật Việc làm (2013) từ ngày 1/1/2015.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên xuất hiện tại Gioneve Thụy Sỹ vào năm 1893 và sau đó lan rộng sang một số nước châu Âu khác. Ở khu vực châu Á một số nước cũng đã thực hiện BHTN như Trung Quốc 1986, Hàn Quốc 1995. Ở nước ta, chế độ BHTN lần đầu tiên được quy định tại Luật BHXH năm 2006. Từ ngày 1/1/2015 chế độ BHTN được thực hiện theo Luật việc làm (2013).

1.2. Nội Dung Cơ Bản Của Chính Sách Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Theo Luật Việc làm (2013, điều 3) thì “ BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN”. Đối tượng của BHTN là thu nhập của NLĐ. Nguyễn Văn Định (2008, tr 73): “Quỹ BHTN là quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài NSNN, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận.”

II. Thực Trạng Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp Tại Hà Nội Vấn Đề

Thực tế cho thấy, công tác chi trả bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa Bảo hiểm xã hội và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chưa thực sự chặt chẽ. Điều này dẫn đến việc hỗ trợ người lao động chưa kịp thời và hiệu quả. Nhiều người lao động vẫn gặp khó khăn trong quá trình làm thủ tục hưởng trợ cấp, cũng như tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ việc làm. Tình trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp cũng là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động.

2.1. Cơ Sở Pháp Lý Của Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp Hà Nội

Cơ sở pháp lý của chi BHTN của cơ quan bảo hiểm xã hội Hà Nội: Luật BHXH 2006, Luật Việc làm 2015 và các văn bản hướng dẫn dưới luật. Qui trình chi BHTN tại BHXH thành phố Hà Nội được thực hiện đồng bộ ở cấc quận huyện trực thuộc và thống nhất theo cả nước.

2.2. Thuận Lợi và Khó Khăn Trong Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Thuận lợi: Tình hình kinh tế - xã hội, Cơ chế chính sách của Nhà nước, Vị trí địa lý, Sự quan tâm phối hợp giữa các ban ngành, Thực hiện chi BHTN qua bưu điện, Đội ngũ cán bộ, NLĐ, NSDLĐ. Khó khăn, vướng mắc: Về chính sách, Sự phối hợp giữa các ban ngành liên quan, Về tổ chức thực hiện chi BHTN tại cơ quan BHXH Hà Nội, Nhận thức của NLĐ và NSDLĐ còn hạn chế.

2.3. Đánh Giá Kết Quả Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp Tại Hà Nội

Kết quả chi BHTN tại BHXH thành phố Hà Nội: Chi trợ cấp thất nghiệp, Chi hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, Chi hỗ trợ học nghề, Chi BHYT. Đánh giá công tác chi trả Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội: Đánh giá chung, Hạn chế và nguyên nhân.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả chi trả bảo hiểm thất nghiệp tại Hà Nội, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường phối hợp giữa các ban ngành, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quản lý chặt chẽ đối tượng chi trả và giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả chi hỗ trợ học nghề, giúp người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm mới phù hợp với năng lực và trình độ.

3.1. Hoàn Thiện Hệ Thống Văn Bản Hướng Dẫn Chi BHTN

BHXH Hà Nội cần bố trí ít nhất 01 cán bộ nhận nhiệm vụ trả lời thắc mắc của các đơn vị liên quan, đồng thời cần đẩy mạnh việc giao dịch qua thư điện tử.

3.2. Nâng Cao Công Tác Phối Hợp Giữa Các Ngành Liên Quan

Cơ quan BHXH cần tích cực, chủ động phối hợp với cơ quan ban ngành liên quan. Đặc biệt là sở LĐTB&XH, Bưu điện thành phố…

3.3. Tăng Cường Quản Lý Đối Tượng Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Để quản lý tốt công tác chi BHTN cần tăng cường các biện pháp quản lý đối tượng hưởng trợ cấp BHTN.

IV. Kiến Nghị Để Nâng Cao Hiệu Quả Chi Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Để công tác chi bảo hiểm thất nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Chính phủ cần xem xét lại mức hỗ trợ học nghề, quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan và tăng mức xử phạt vi phạm. Các cơ quan, ban ngành thành phố Hà Nội cần tăng cường phối hợp, hỗ trợ người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng trợ cấp. Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần thống nhất với Bộ LĐTB-XH ban hành văn bản hướng dẫn và quy định lại một số nội dung chưa phù hợp.

4.1. Kiến Nghị Với Chính Phủ Về Chính Sách BHTN

Xem xét lại mức hỗ trợ học nghề; Chính phủ xem xét thực hiện thêm chế độ BHTN tự nguyện; Quy định chính sách cụ thể đối với trường hợp NLĐ chờ hưởng lương hưu lại đăng ký thất nghiệp; Quy định rõ trách nhiệm của các bên; Tăng mức xử phạt vi phạm

4.2. Kiến Nghị Với Cơ Quan Ban Ngành Thành Phố Hà Nội

Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội; Kiến nghị với Sở LĐTB&XH thành phố Hà Nội; Kiến nghị với Bưu điện thành phố Hà Nội

4.3. Kiến Nghị Với Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Về Quy Trình

BHXH Việt Nam thống nhất với Bộ LĐTB-XH ban hành văn bản hướng dẫn và quy định lại một số nội dung chưa phù hợp; Ban hành công văn hướng dẫn kịp thời và đầy đủ; Sửa đổi một số nội dung trong quy trình chi trả TCTN; Cập nhật phần mềm quản lý thu và chi theo hướng liên thông cả nước.

V. Ứng Dụng CNTT Trong Chi Trả Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian chi trả và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia và thụ hưởng các chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống CNTT cần được nâng cấp đồng bộ, liên thông giữa các cơ quan liên quan, giúp người lao động dễ dàng tra cứu thông tin, nộp hồ sơ trực tuyến và theo dõi quá trình giải quyết.

5.1. Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Nhờ CNTT

BHXH thành phố đã và đang chủ động thực ứng dụng CNTT trong việc cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian chi trả và tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ tham gia và thụ hưởng các chính sách BHTN. Kết quả, giảm đáng kể tỷ lệ hồ sơ chậm muộn từ gần 20% năm 2012 xuống dưới 3% vào cuối năm 2016.

5.2. Xây Dựng Hệ Thống Thông Tin Liên Thông

Xây dựng hệ thống CNTT hướng dẫn chi tiết NLĐ hoàn thiện hồ sơ hưởng, tạo lập các kênh tương tác trực tiếp với NLĐ. Hoàn thiện các bảng biểu chỉ dẫn đầy đủ, dễ hiểu cho NLĐ khi làm hồ sơ hưởng BHTN.

VI. Tương Lai Của Bảo Hiểm Thất Nghiệp Hà Nội Phát Triển

Trong tương lai, bảo hiểm thất nghiệp tại Hà Nội cần tiếp tục được hoàn thiện và phát triển để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động và người lao động. Cần mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn việc làm và đào tạo nghề. Đồng thời, cần tăng cường giám sát, kiểm tra để ngăn chặn các hành vi gian lận, trục lợi quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

6.1. Mở Rộng Đối Tượng Tham Gia Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Chính phủ xem xét thực hiện thêm chế độ BHTN tự nguyện.

6.2. Đa Dạng Hóa Các Hình Thức Hỗ Trợ

Xem xét lại mức hỗ trợ học nghề.

06/06/2025
Thực trang chi bảo hiểm thất nghiệp ở cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp và chi bảo hiểm thất nghiệp Chương 2: Thực trạng chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Tổng quan về chi Bảo hiểm thất nghiệp 1. Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp 1. Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp trên thế giới Châu Âu là cái nôi của tất cả các loại hình Bảo hiểm trong đó có BHTN.

BHTN ra đời năm 1893 tại Thụy Sỹ trong một nghề khá phổ biến như: Nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh, nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoản hai mươi đến ba mươi công nhân. Do có tính chất thời vụ, các công xưởng chỉ sản xuất trong một thời gian nhất định. Thời gian còn lại các công nhân phải nghỉ việc không có việc làm và bị thất nghiệp do đó các công nhân phải đi tìm các công việc khác dẫn đến trong các năm tiếp theo các công xưởng không có lao động kỹ thuật cao. Năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sỹ đã cùng nhau lập ra quỹ doanh nghiệp để trợ cấp cho các công nhân nghỉ việc vì lý do thời vụ.

Trong thời gian nghỉ việc NLĐ vẫn có một khoản thu nhập từ trợ cấp để trang trải cho cuộc sống do đó áp lực tìm kiếm công việc mới không cao và họ vẫn có thể tiếp tục làm việc trong mùa vụ tiếp theo. Sau đó nhiều nghiệp đoàn ở châu Âu bắt đầu thành lập ra quỹ công đoàn với mục đích trợ cấp cho những người công nhân bị nghỉ việc. Thấy rõ được vai trò to lớn của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với cuộc sống của người công nhân, chính quyền địa phương đã cùng nhau liên kết các doanh nghiệp, nghiệp đoàn cùng đóng góp tạo nên quỹ trợ cấp thất nghiệp thực chất đó là quỹ BHTN tham gia đóng góp quỹ lúc này không chỉ có người sử dụng lao động (NSDLĐ) mà cả NLĐ có việc làm không ổn định. Để đảm bảo cuộc sống trong thời gian thất nghiệp thì mức trợ cấp thất nghiệp (TCTN) phải tương đối so với lương và phải đều đặn vì vậy mà quỹ BHTN phải lớn cho nên đã có sự tham gia đóng góp của cả nhà nước.

Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên xuất hiện tại Gioneve 5 Thụy Sỹ vào năm 1893 và sau đó đã lan rộng sang một số nước châu Âu khác. Nhận thức được tác dụng của quỹ BHTN năm 1900 tại Na Uy và 1910 tại Đan Mạch chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHTN tự nguyện và có sự hỗ trợ của chính phủ. Sau đó năm 1911 Vương quốc Anh đã ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp theo là một số nước khác như Đức, Thụy Điển… Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă ban hành Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Dựa trên Công ước 44, nhiều nước đã ban hành và thực hiện chính sách về BHTN.

Tiên phong như Mỹ 1935, Canada 1939. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đặc biệt là sau khi có công ước 102 năm 1952 của ILO thì một loạt các nước trên thế giới đã cùng nhau thực hiện, triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Đến hết năm 1981 trên thế giới có 30 nước đã thực hiện BHTN bắt buộc và có 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện. Tới năm 1992 những con số trên tương ứng là 39 nước và 12 nước.

Đến nay trên thế giới đã có gần 80 quốc gia triển khai BHTN, trợ cấp thất nghiệp. Ở khu vực châu Á một số nước cũng đã thực hiện BHTN như Trung Quốc 1986, Hàn Quốc 1995. Khu vực Đông Nam Á Việt Nam là nước thứ hai thực hiện triển khai chính sách BHTN (2009) sau Thái Lan (2004). Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế xã hội không mong muốn của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam.

Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước. Nhận thức rõ vấn đề này chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp và chính sách nhằm hạn chế ảnh hưởng của thất nghiệp đối với nền kinh tế. Cụ thể như sau: Giai đoạn trước năm 1995: sau khi giành được chính quyền. - Giai đoạn này Chính phủ ban hành trong nhiều văn bản, nhằm giải quyết theo yêu cầu của các cuộc vận động kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế, hoặc đưa công nhân, viên chức về tham gia sản xuất nông nghiệp trong từng thời gian nhất định.

Trong đó, tiêu biểu là thông tư số 88/TTG ngày 01/10/1964 của thủ tướng 6 Chính phủ về “chế độ trợ cấp thôi việc đối với công nhân viên chức”. Thông tư quy định nội dung chế độ trợ cấp thôi việc áp dụng thống nhất trong các ngành, các cấp khi cho công nhân, viên chức thôi việc nhằm giúp đỡ công nhân, viên chức giải quyết một phần khó khăn, tạo điều kiện để họ mau chóng ổn định đời sống và công việc làm mới và các nội dung của thông tư này được áp dụng cho đến năm 1986. - Đến năm 1989 nhà nước triệt để xóa bỏ bao cấp chuyển các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh, sắp xếp lại lao động trong khu vực nhà nước làm cho hàng chục vạn cán bộ nhà nước thất nghiệp. Để giải quyết tình trạng này Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã ban hành quyết định số 176/HĐBT ngày 09/10/1989 về “sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh trên cơ sở phương án sắp xếp lại lao động trong doanh nghiệp được cơ quan thẩm quyền phê duyệt và danh sách lao động dôi dư được nhà nước quy định chế độ thôi việc, chế độ trợ cấp tạm ngừng đối với số lao động này”.

Nguồn trợ cấp do nhà nước đảm bảo 50% và doanh nghiệp đảm bảo 50%. Sau đó ngày 12/04/1991 HĐBT ra quyết định quy định về chính sách đối với người thôi việc chuyển ra ngoài biên chế nhà nước. - Sau khi có pháp lệnh hợp đồng thông tư hướng dẫn số 04/LĐTB&XH ngày 18/03/1993 quy định áp dụng chế độ trợ cấp đối với NLĐ thất nghiệp trong đó quy định cụ thể công nhân viên chức đang biên chế nhà nước nếu thôi việc khi chưa ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) thì được hưởng trợ cấp ở mức 1 tháng lương cơ bản cộng phụ cấp lương với một năm công tác. Đối với NLĐ đã chuyển sang ký HĐLĐ khi chấm dứt hợp đồng còn được hưởng một số quyền lợi khác ngoài trợ cấp một lần.

Giai đoạn 1995 tới năm 2009. Năm 1995 Bộ luật Lao động ra đời (01/01/1995) đã quy định về quyền lợi của NLĐ được hưởng khi bị thôi việc do thay đổi cơ cấu. Nếu không thể sử dụng thì phải trợ cấp cho NLĐ thôi việc ở mức mỗi năm làm việc 01 tháng lương và do quỹ dự phòng của doanh nghiệp chi trả cụ thể: “mỗi năm làm việc là 0,5 tháng lương và phụ cấp lương nếu có”. Tiếp sau đó ngày 19/12/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/CP về “Giải quyết quyền lợi của NLĐ ở doanh nghiệp tuyên bố phá sản”.

Quy định doanh 7 nghiệp bị tuyên bố phá sản phải thanh toán các khoản còn nợ cho NLĐ bao gồm: tiền lương, tiền BHXH, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác… Sau đó năm 2002 đã có hàng loạt các văn bản ra đời để giải quyết lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Trước tình hình đó đòi hỏi cần có một hệ thống các quy định pháp luật một cách khoa học, có hệ thống, ổn định lâu dài và BHTN ra đời. Việc ban hành chính sách BHTN nằm trong khuôn khổ luật BHXH giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cũng như quá trình sửa đổi bổ sung pháp luật lao động nước ta.2006, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và có hiệu lực từ ngày 1.2007 Như vậy, có thể nói các chính sách trên là hình thức sơ khai của BHTN. Đối với NLĐ thuộc diện dôi dư, mất việc trong quá trình chuyển đổi cơ cấu thì những chính sách này giúp họ ổn định cuộc sống và có cơ hội tìm kiếm việc làm mới phù hợp.

Tuy nhiên, những chính sách và biện pháp trên chỉ mang tính chất “Tình thế”, chưa mang tầm chiến lược, lâu dài và chỉ phù hợp trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế. Bởi lẽ theo các chính sách này thì chỉ lao động dư thừa trong doanh nghiệp nhà nước mới được giải quyết còn lao động thất nghiệp trong các thành phần kinh tế khác thì không. Và NLĐ, gia đình họ không có được cuộc sống tối thiểu do mức trợ cấp thấp. Đặc biệt những người trợ cấp một lần thì không có điều kiện hưởng chế độ hưu trí khi về già và là gánh nặng cho doanh nghiệp vì họ thường phải chi trả trợ cấp thôi việc.

Giai đoạn từ năm 2009 – 2014 Tuy Luật BHXH (2006) có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 nhưng chế độ BHTN bắt đầu được thực hiện từ ngày 1/1/2009. Tuy nhiên do có quy định về điều kiện đóng, đó là NLĐ muốn được hưởng BHTN phải đóng từ đủ 12 trở lên, nên bắt đầu từ ngày 01/01/2010 mới thực hiện chi BHTN. Sau đó một loạt các văn bản hướng dẫn dưới luật trên đã quy định cụ thể và chi tiết luật Bảo hiểm xã hội để NLĐ cũng như cơ quan BHXH có thể triển khai và thực hiện các thủ tục về đóng, hưởng 8 BHTN. Đồng thời quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của cơ quan BHXH, NLĐ, NSDLĐ và nhà nước trong việc đóng và chi trả BHTN.

Giai đoạn từ năm 2015 tới nay Sáu một thời gian thực hiện, chính sách BHTN đã bộc lộ nhiều hạn chế về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, tổ chức thực hiện của cơ quan BHXH và bộ LĐTB&XH,… đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung và mở rộng để thực hiện tốt mục tiêu của BHTN. Do đó, ngày 16/11/2013, toàn bộ chế độ BHTN được quy định lại trong Luật Việ ệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Bảo Hiểm Thất Nghiệp Tại Hà Nội: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bảo hiểm thất nghiệp tại Hà Nội, phân tích những thách thức hiện tại và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện hệ thống này. Bài viết không chỉ nêu rõ thực trạng mà còn chỉ ra những lợi ích mà bảo hiểm thất nghiệp mang lại cho người lao động, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của chính sách này trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học bảo hiểm thất nghiệp và giải pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn tại thành phố hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp ngăn chặn việc lạm dụng bảo hiểm thất nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn một số giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện an dương thành phố hải phòng cũng cung cấp những giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội, có thể áp dụng cho bối cảnh bảo hiểm thất nghiệp.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và khả năng áp dụng trong thực tiễn.