MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: Hoạt động xác lập quyền và thực thi quyền đối với các đối tượng của Sở hữu công nghiệp nói chung, cũng như hoạt động thực thi quyền SHTT đối với KDCN nói riêng, đang trở thành một vấn đề cấp thiết và nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan, các cơ quan báo chí, người tiêu dùng, các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng, và đặc biệt là các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thuộc đối tượng bảo hộ KDCN. Hiện nay tình trạng sản xuất hàng hóa giả mạo, đặc biệt là những sản phẩm vi phạm quy định đối với KDCN đã được bảo hộ ngày càng trở nên phổ biến, thậm chí các hành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, khó phát hiện và đánh giá. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bên cạnh những nhà sản xuất, những người luôn quan tâm đến việc đầu tư cho tài sản trí tuệ, nghiên cứu sáng tạo những sản phẩm mới…, vẫn còn không ít những người chỉ chờ đợi việc người khác nghiên cứu ra sản phẩm mới rồi bắt trước theo đó để kiếm lợi nhuận.
Hành động này vi phạm pháp luật, phải có những biện pháp, cơ chế rõ ràng hơn để chấm dứt hiện tượng này, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ các bằng độc quyền KDCN, nhằm bảo hộ và khuyến khích sáng tạo từ các đối tượng này. Mặt khác tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh cho việc phát triển hoạt động Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam là thành viên. Thực tiễn giải quyết việc xâm phạm đối với KDCN đã cho thấy, khung pháp lý so với thực tiễn triển khai còn có nhiều cách hiểu, cách tiến hành khác nhau. Mặt khác những cơ quan, đơn vị có chức năng thực thi quyền khi triển 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, bối rối và do vậy kết quả không thống nhất, khó thực thi trên thực tế và chưa hiệu quả.
Do vậy, đề tài nghiên cứu sẽ góp phần vào việc xử lý những điểm bất cập này. Trong xu thế phát triển và hội nhập với thế giới, Việt Nam không thể đứng ngoài sự phát triển đó. Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều các điều ước quốc tế về quyền Sở hữu Trí tuệ. Tuy nhiên hoạt động thực thi những quyền này còn phụ thuộc nhiều vào pháp luật quốc gia cũng như các yếu tố bản địa.
Trách nhiệm trước hết thuộc về các cơ quan thực thi quyền, tiếp đến là sự nhận thức, hành động của doanh nghiệp, chủ sở hữu quyền, người tiêu dùng và toàn xã hội nói chung. Trên thực tế còn khá nhiều các vấn đề xung quanh việc thực thi quyền đối với KDCN ở Việt Nam. Những vấn đề này sẽ ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của việc thực thi quyền SHTT tại Việt Nam đó là: Vai trò, trách nhiệm, tính hiệu quả, khả năng tự bảo vệ quyền SHTT của mỗi Chủ sở hữu quyền sau khi xác lập quyền thành công và khi phát hiện những hành vi xâm phạm quyền của mình, hiện nay việc các chủ thể này đã nhận thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm của mình hay chưa, họ sẽ hành động như thế nào khi họ sáng tạo ra một tài sản trí tuệ, cũng như việc họ sẽ làm gì để bảo vệ và phát triển tài sản này? vẫn đang là một câu hỏi. Vai trò của các Cơ quan Nhà Nước, các Nhà chức trách có nhiệm vụ đảm bảo thực thi quyền SHTT, bảo vệ, ngăn chặn và xử lý những hành vi xâm phạm quyền, đảm bảo sự bảo hộ của Nhà Nước đối với quyền SHTT của các Chủ thể, những cơ quan này hành động như thế nào khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền, tính hiệu quả, tính kịp thời của những hành động này như thế nào? sự phối hợp, liên hợp giữa các Cơ quan thực thi này ra sao…? tất cả những câu hỏi, những vấn đề đó nếu giải quyết được một cách hợp lý, thoả đáng và hài hoà theo đúng các quy định của Pháp luật thì hiệu quả thực thi quyền SHTT sẽ được đảm bảo, pháp luật SHTT sẽ được thực thi.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài vai trò của hai đối tượng nêu trên, chúng ta cũng không thể xem nhẹ, bỏ qua vai trò của xã hội trong việc thực thi và ngăn chặn xâm phạm quyền SHTT ở Việt Nam, bởi mỗi tổ chức, cá nhân là một thành tố của xã hội, họ sẽ tham gia các quan hệ, các giao dịch có liên quan đến quyền SHTT, việc họ nhận thức đầy đủ và tôn trọng pháp luật sẽ là cơ sở, nền tảng để đảm bảo vịêc thực thi và thực thi hiệu quả quyền SHTT trên thực tế. Đặc biệt riêng đối với KDCN một đối tượng của quyền SHTT với các tiêu chuẩn bảo hộ đó là phải có tính mới đối với thế giới, phải có tính sáng tạo và phải có khả năng áp dụng công nghiệp, như vậy đối với một đối tượng đòi hỏi phải có tính sáng tạo, tính mới này thì việc nhận thức đầy đủ, hiểu rõ, hiểu đúng về đối tượng đối với đại bộ phận xã hội sẽ là một vấn đề khó, đòi hỏi phải có quá trình tuyền truyền, phố biến giáo dục dài lâu, bài bản và hiệu quả để đảm bảo được hiệu quả của việc thực thi quyền. Đề tài nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thực thi quyền và cơ chế thực thi quyền đối với KDCN trên thực tế, những tồn tại và biện pháp khắc phục vấn đề này, phân những kinh nghiệm từ các quy định cũng như cơ chế thực thi quyền đối với KDCN ở một số quốc gia trên thế giới như Pháp, Liên minh Châu Âu và Singapore. Tình hình nghiên cứu đề tài: Hiện nay ở nước ta, đã có một số đề tài nghiên cứu, cũng như các bài báo đề cập đến góc độ này, góc độ khác của hoạt động thực thi quyền, cũng có các tác giả có bài viết, bài nghiên cứu về vấn đề này, như: đề tài “Về việc thực thi quyền Sở hữu trí tuệ theo quy định của TRIPS trong tương quan so sánh với Pháp luật Việt Nam Luận văn thạc sỹ - tác giả Lê Thành Trung năm 2006”, đề tài “ Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thươngmại, chỉ dẫn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam – Thạc sỹ Trần Văn Toàn”, bài viết “Thực thi quyền Sở hữu trí tuệ theo quy định của WTO, lợi ích quốc gia hay uy tín quốc tế- tác giả Tiến sỹ Trần Văn Hải, Đại học khoa học xã hội và nhân văn”, Cuốn sách “Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam: Pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản Tư Pháp của tác giả Nguyễn Bá Bình – năm 2005…, nhưng những đề tài nghiên cứu, bài viết này thường mang ý nghĩa chung, hoặc áp dụng cho hoạt động thực thi quyền SHTT nói chung, hoặc các đối tượng khác của quyền SHTT như Nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào chuyên sâu về thực thi quyền đối với KDCN tại Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu này mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với luật pháp quốc tế và là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp thực thi quyền riêng biệt đối với KDCN ở Việt Nam. Pháp luật và kinh nghiệm thực thi của một số nước trên thế giới với mong muốn những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa thực hiện đúng các cam kết quốc tế vừa bảo hộ được các ngành sản xuất của Việt Nam chống lại việc xâm phạm quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh của các nhà sản xuất trong nước, các nhà nhập khẩu hoặc đầu tư nước ngoài. Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý về thực thi quyền SHTT và hiệu quả thực thi quyền đối với KDCN tại Việt Nam hiện nay, một số các vụ việc thực thi điển hình trong thời gian vừa qua, những tồn tại, những bất cập cần khắc phục để hoạt động thực thi quyền được hiệu quả, trong bối cảnh hội nhập và phát triển, chúng ta xem xét các quy định về thực 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thi quyền đối với KDCN ở một số quốc gia trên thế giới như Singapore, Pháp, Liên minh Châu Âu và kinh nghiệm triển khai hiệu quả hoạt động thực thi quyền đối với KDCN tại Việt nam hiện nay.
- Mục đích: Luận văn có mục đích: + Làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về các quy định của pháp luật về thực thi quyền SHTT đối với KDCN. + Nghiên cứu Pháp luật quốc tế về thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền SHTT đối với KDCN nói riêng. + Nghiên cứu thực trạng hoạt động thực thi quyền SHTT đối với KDCN tại Việt Nam trong một số năm đã qua, để đánh giá hiệu quả công tác thực thi bảo vệ quyền đối với KDCN. + Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng các quy định của pháp luật, thực trạng thực thi quyền SHTT đối với KDCN, và kinh nghiệm của một số nước về thực thi quyền SHTT, tác giả đưa ra các đánh giá và chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp luật để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHTT đối với KDCN nói riêng và quyền SHTT nói chung.
- Nhiệm vụ của luận văn + Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực thi quyền SHTT đối với KDCN tại Việt Nam. + Nghiên cứu quy định của Pháp luật quốc tế về thực thi quyền SHTT đối với KDCN. + Nghiên cứu kinh nghiệm và thực tế pháp luật của một số nước trên thế giới trong công tác thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền SHTT đối với KDCN nói riêng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.