Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện ở miền Đông Nam Bộ

Tài liệu nghiên cứu Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

205
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Nền tảng thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện

Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là một phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Nêu gương không chỉ là yêu cầu đạo đức mà còn là mệnh lệnh, là thuộc tính bản chất của người đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong bối cảnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, vai trò này càng trở nên cấp thiết. Các tỉnh miền Đông Nam Bộ, với vị thế là vùng kinh tế trọng điểm, năng động, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải thực sự là đầu tàu, là tấm gương sáng về mọi mặt. Việc này nhằm củng cố niềm tin của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Quy định 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã cụ thể hóa trách nhiệm này, nhấn mạnh vai trò tiên phong của người đứng đầu. Theo đó, cán bộ phải gương mẫu về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, và tinh thần trách nhiệm. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện không chỉ tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị tại địa phương. Đây là yếu tố quyết định để Đảng giữ vững vị thế lãnh đạo, bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực và cả nước.

1.1. Cơ sở lý luận về trách nhiệm nêu gương của đảng viên

Cơ sở lý luận của trách nhiệm nêu gương của đảng viên bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nêu gương là một phương thức lãnh đạo hiệu quả, yêu cầu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đảng ta đã thể chế hóa quan điểm này qua nhiều văn bản quan trọng, điển hình là Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Văn bản này yêu cầu cán bộ, nhất là người đứng đầu cấp ủy, phải gương mẫu trong việc rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Nội dung nêu gương bao gồm sự kiên định với lý tưởng của Đảng, tinh thần phục vụ nhân dân, nói đi đôi với làm, và dũng cảm tự soi, tự sửa. Đây không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là phương thức củng cố uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội.

1.2. Vai trò của cán bộ huyện diện BTV Tỉnh ủy quản lý

Cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là những người giữ vị trí then chốt, quyết định trực tiếp đến sự phát triển của địa phương. Họ là cầu nối giữa chủ trương của tỉnh và việc triển khai tại cơ sở. Vai trò của họ không chỉ dừng lại ở quản lý, điều hành mà còn là tấm gương để cán bộ cấp dưới và nhân dân noi theo. Sự gương mẫu của đội ngũ này trong đạo đức công vụ, liêm chính, và phong cách làm việc khoa học sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh. Ngược lại, bất kỳ sự thiếu gương mẫu nào cũng sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền huyện.

II. Rào cản khi thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Một bộ phận cán bộ chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về tầm quan trọng của việc nêu gương. Biểu hiện là tình trạng nói không đi đôi với làm, hành vi quan liêu, xa rời quần chúng vẫn còn tồn tại. Một số trường hợp vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước về quản lý đất đai, tài chính, thậm chí lợi dụng chức vụ, quyền hạn đã bị xử lý kỷ luật. Những vi phạm này không chỉ làm tổn hại uy tín cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Công tác công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên đôi khi chưa đủ quyết liệt và thường xuyên. Việc phát hiện và xử lý các vi phạm còn chậm, chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, cơ chế giám sát của nhân dân và các tổ chức đoàn thể chưa thực sự phát huy hiệu quả. Áp lực từ “lợi ích nhóm” và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân là những rào cản lớn, đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng tự soi, tự sửa và có bản lĩnh chính trị vững vàng để vượt qua.

2.1. Những biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức lối sống

Một số cán bộ thuộc diện quản lý đã có biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Luận án của Nguyễn Thị Thảo đã chỉ ra các trường hợp cụ thể như sử dụng bằng cấp giả, lợi dụng chức vụ để can thiệp vào hoạt động công vụ, hay vi phạm trong quản lý đất đai tại các địa phương như huyện Xuyên Mộc, Đất Đỏ (Bà Rịa - Vũng Tàu). Những hành vi này là minh chứng rõ nét cho sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, xem nhẹ trách nhiệm nêu gương. Đây là một trong những thách thức lớn nhất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảngphòng chống tham nhũng, tiêu cực tại cơ sở.

2.2. Hạn chế trong cơ chế kiểm tra giám sát và đánh giá

Cơ chế kiểm tra, giám sát hiện nay vẫn còn những kẽ hở. Công tác kiểm tra, giám sát đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất. Việc đánh giá cán bộ cuối năm chưa gắn chặt chẽ với kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương. Bên cạnh đó, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc giám sát cán bộ chưa được phát huy tối đa. Việc lấy ý kiến nhân dân để đánh giá cán bộ đôi khi còn hạn chế, chưa tạo thành một kênh thông tin phản biện mạnh mẽ, khách quan để giúp cấp ủy cấp trên có cái nhìn toàn diện về phẩm chất và năng lực của cán bộ.

III. Phương pháp hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương

Để nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện, giải pháp nền tảng là phải xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng. Cần cụ thể hóa nội dung nêu gương gắn với từng chức danh, vị trí công tác của cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Các quy định không nên chung chung mà phải lượng hóa được bằng những tiêu chí rõ ràng, dễ đo lường, dễ đánh giá. Ví dụ, tiêu chí về nêu gương trong cải cách hành chính, trong tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, hay trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Ban Thường vụ Tỉnh ủy các tỉnh cần chủ động ban hành các quy chế, quy định riêng phù hợp với đặc thù địa phương, dựa trên khung chung của Trung ương như Quy định 08-QĐi/TW. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế để cán bộ cấp dưới và nhân dân có thể tham gia góp ý xây dựng các quy định này. Việc công khai các bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ lãnh đạo cũng là một giải pháp hiệu quả. Khi các quy định rõ ràng, minh bạch, việc đánh giá, kiểm tra và xử lý vi phạm sẽ có cơ sở vững chắc hơn, góp phần đưa việc nêu gương trở thành một nếp sống, một yêu cầu tự thân của mỗi cán bộ.

3.1. Cụ thể hóa Quy định về trách nhiệm nêu gương theo chức danh

Cần xây dựng các bộ tiêu chí riêng để đánh giá việc thực hiện Quy định về trách nhiệm nêu gương cho từng chức danh cán bộ chủ chốt cấp huyện như Bí thư, Chủ tịch UBND, Chủ tịch HĐND. Các tiêu chí này phải gắn liền với chức trách, nhiệm vụ được giao. Ví dụ, đối với Chủ tịch UBND, tiêu chí nêu gương có thể là sự quyết liệt trong cải cách hành chính, sự minh bạch trong quản lý ngân sách, và hiệu quả trong thu hút đầu tư. Việc này giúp biến các yêu cầu chung về đạo đức thành những hành động cụ thể, có thể đo lường và giám sát.

3.2. Gắn kết quả nêu gương với công tác đánh giá quy hoạch cán bộ

Kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương phải là một tiêu chí bắt buộc, có trọng số cao trong việc đánh giá, xếp loại cán bộ hàng năm. Những cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt cần được biểu dương, khen thưởng và ưu tiên trong quy hoạch, bổ nhiệm. Ngược lại, những người có biểu hiện thiếu gương mẫu, uy tín thấp phải được xem xét, đưa ra khỏi quy hoạch hoặc điều chuyển công tác khác phù hợp hơn. Điều này tạo ra động lực thực chất để mỗi cán bộ không ngừng phấn đấu, rèn luyện.

IV. Cách nâng cao giám sát và tính tự giác của cán bộ huyện

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, việc tăng cường giám sát và phát huy tính tự giác là hai giải pháp song hành, có tính quyết định. Cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên phải nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Các cuộc kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, đột xuất, tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Việc xử lý vi phạm phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm. Đồng thời, cần phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát từ bên ngoài. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần được đề cao thông qua các cơ chế giám sát, phản biện xã hội cụ thể. Việc tổ chức các diễn đàn để lấy ý kiến nhân dân một cách thực chất về phẩm chất của cán bộ là vô cùng cần thiết. Quan trọng nhất, mỗi cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý phải tự nâng cao ý thức, trách nhiệm của bản thân. Quá trình tự soi, tự sửa phải trở thành hoạt động thường xuyên, thông qua sinh hoạt chi bộ, tự phê bình và phê bình. Chỉ khi có sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa giám sát bên ngoài và tự giác bên trong, việc nêu gương mới thực sự đi vào chiều sâu và bền vững.

4.1. Tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra giám sát của cấp ủy

Ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động nắm bắt tình hình, thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với cán bộ thuộc diện quản lý. Nội dung kiểm tra cần tập trung vào việc thực hiện các quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương, và việc kê khai tài sản, thu nhập. Kết quả kiểm tra, xử lý kỷ luật phải được công khai để tăng tính răn đe và giáo dục chung, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

4.2. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức xã hội

Cần tạo điều kiện thuận lợi để người dân và các tổ chức xã hội tham gia giám sát đạo đức công vụphong cách làm việc của cán bộ. Điều này có thể được thực hiện thông qua các hòm thư góp ý, đường dây nóng, các buổi đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo và nhân dân. Báo chí, truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, phản ánh các biểu hiện tiêu cực, thiếu gương mẫu, tạo áp lực xã hội để cán bộ phải tự điều chỉnh hành vi của mình.

4.3. Đề cao tính tự giác tự rèn luyện theo gương Bác Hồ

Mỗi cán bộ cần nhận thức sâu sắc rằng nêu gương là trách nhiệm tự thân. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được thực hiện bằng những hành động cụ thể hàng ngày. Tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” phải được thể hiện trong từng quyết định, từng việc làm. Tính tự giác rèn luyện là nhân tố bền vững nhất để xây dựng hình ảnh người cán bộ thực sự vì dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng.

V. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn nêu gương của cán bộ

Qua quá trình thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tại miền Đông Nam Bộ, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được đúc kết. Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát của các cấp ủy, đặc biệt là Ban Thường vụ Tỉnh ủy, là yếu tố tiên quyết. Khi người đứng đầu cấp tỉnh thực sự quan tâm và làm gương, toàn bộ hệ thống sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ. Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát phải được xem là một công cụ sắc bén để đưa việc nêu gương vào nền nếp. Giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm minh sẽ ngăn chặn hiệu quả các hành vi sai phạm. Thứ ba, việc cụ thể hóa nội dung nêu gương gắn với từng chức danh cán bộ là cơ sở quan trọng để việc thực hiện không bị hình thức hóa. Khi cán bộ biết rõ mình cần làm gì để nêu gương, hiệu quả sẽ cao hơn. Cuối cùng, ý thức tự giác, trách nhiệm tự rèn luyện của chính bản thân mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhân tố có ý nghĩa bền vững nhất. Một tấm gương sáng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống sẽ có sức lan tỏa tự nhiên, mạnh mẽ hơn bất kỳ mệnh lệnh hành chính nào, góp phần trực tiếp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền Đông Nam Bộ.

5.1. Vai trò quyết định của cấp ủy và người đứng đầu

Thực tiễn cho thấy, ở những địa phương mà cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy thực sự gương mẫu, quyết liệt chỉ đạo thì ở đó, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương có chuyển biến rõ rệt. Sự gương mẫu của lãnh đạo cấp trên tạo ra hiệu ứng tích cực, là mệnh lệnh không lời đối với cấp dưới. Do đó, bài học hàng đầu là phải xây dựng được một tập thể cấp ủy đoàn kết, thống nhất và một người đứng đầu thực sự tiêu biểu về mọi mặt.

5.2. Sức mạnh tổng hợp từ giám sát và sự đồng thuận xã hội

Thành công trong việc nêu gương không chỉ đến từ nỗ lực của cá nhân cán bộ mà còn từ sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được kết hợp hài hòa với sự giám sát của nhân dân, báo chí và các tổ chức xã hội, một “lưới lọc” hiệu quả sẽ được hình thành để ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực. Sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân là thước đo chính xác nhất cho hiệu quả của việc nêu gương.

VI. Định hướng 2030 Thực hiện trách nhiệm nêu gương bền vững

Hướng tới năm 2030, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ cần được nâng lên một tầm cao mới, theo hướng bền vững và thực chất. Mục tiêu hàng đầu là xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đảm bảo tính đồng bộ, khoa học. Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, biến nó thành hành động tự giác của mỗi cá nhân. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát cán bộ để đảm bảo tính minh bạch. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực lãnh đạo và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương không phải là một chiến dịch ngắn hạn, mà là một quá trình rèn luyện liên tục, không ngừng nghỉ. Kết quả của quá trình này sẽ là nhân tố cốt lõi, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của các tỉnh miền Đông Nam Bộ, xứng đáng là đầu tàu kinh tế của cả nước.

6.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận đủ đức đủ tài

Một trong những định hướng quan trọng là tập trung vào công tác quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận. Cần lựa chọn những nhân tố trẻ, có triển vọng, được rèn luyện qua thực tiễn để bồi dưỡng. Tiêu chuẩn nêu gương về đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn phải được đặt lên hàng đầu trong quá trình lựa chọn, đảm bảo sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo một cách vững chắc, hiệu quả.

6.2. Hướng tới một nền công vụ liêm chính phục vụ nhân dân

Mục tiêu cuối cùng của việc nêu gương là xây dựng một nền đạo đức công vụ trong sạch, một bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả, thực sự vì nhân dân phục vụ. Mỗi cán bộ thuộc diện quản lý phải là một tấm gương về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi đó, niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ được củng cố vững chắc, tạo thành động lực to lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn mới.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về bản chất của chế độ xã hội ở Trung Quốc, phải chăng đây là một quốc gia tư bản có vỏ ngoài xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể giữ địa vị thống trị trong mười năm hiện đại hóa và toàn cầu hóa tiếp theo không? Từ đó, tác giả đã lý giải thông qua việc phân tích, xem xét cách thức đào tạo các quan chức chính phủ Trung Quốc - một quá trình khắt khe, luôn có sự cam kết với Đảng về mặt tư tưởng và chính trị. - Đặng Đình Lựu (2010), “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở Trung Quốc hiện nay” [58]. Bài viết đã chỉ rõ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo là trọng điểm của công tác xây dựng Đảng. Tác giả đã nêu lên những tiêu chuẩn cao đối với cán bộ lãnh đạo như: Một là, kiên trì tiêu chuẩn đủ đức, đủ tài, lấy đức làm đầu.

Đây là yêu cầu căn bản và là bảo đảm quan trọng để giữ vững tính tiên tiến, tính trong sạch của đảng cầm quyền. Hai là, cán bộ lãnh đạo cần được thông qua các môi trường, lĩnh vực công tác khác nhau để tự rèn luyện, nâng cao, tự thử thách, tự kiểm nghiệm về cái tâm, tầm trước yêu cầu mới. Trước thực trạng một số cán bộ hủ bại, tác giả cũng nêu lên một số định hướng giải quyết, trong đó có định hướng về quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơ quan trong từng khâu của công tác cán bộ, cần có cơ chế xử lý trách nhiệm đối với cán bộ chọn sai, dùng sai như kỷ luật đảng, cho từ chức. Building Tomorrow's Leaders Today: On Becoming a Polymath Leader: Xây dựng đội ngũ lãnh đạo hôm nay cho ngày mai: trở thành một nhà lãnh đạo hiểu biết [189].

Tác giả đã luận giải một số vấn đề về lãnh đạo như: lãnh đạo là gì, hoạt động như thế nào, tính phức tạp, đa chiều và sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai. Từ đó, tác giả phân tích yêu cầu khi xây dựng đội ngũ nhà lãnh đạo trong tương lai, đòi hỏi phải dự đoán về những kỹ năng, năng lực cụ thể sẽ có giá trị cho nhu cầu tương lai, nhất là trước sự thay đổi nhanh chóng với công nghệ mới, sự đa dạng và vấn đề toàn cầu hóa. 9 - Thẩm Diệu Diệu (2013) 沈跃跃, Nỗ lực xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt chất lượng cao [187]. Tác giả đã khẳng định cán bộ có vai trò quan trọng, là nòng cốt cầm quyền của Đảng, là lực lượng trung kiên thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Bài viết phân tích nhiệm vụ được nêu tại Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Điều then chốt trong việc kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là phải xây dựng đội ngũ cầm quyền chủ chốt kiên định chính trị, chuyên môn vững vàng, tác phong gương mẫu, có ý chí phấn đấu với các nội dung cụ thể: Kiên trì tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, sử dụng cán bộ, bảo đảm đội ngũ cán bộ tiên tiến, trong sạch; Tăng cường trang bị lý luận và giáo dục tư tưởng, giữ vững niềm tin, lý tưởng của người cán bộ lãnh đạo; Thường xuyên duy trì mối liên hệ với quần chúng nhân dân, xây dựng hình ảnh người cán bộ liêm khiết, hết mình phục vụ nhân dân; Cải cách sâu sắc chế độ tuyển chọn, sử dụng, giám sát cán bộ. Bài viết phân tích các tư tưởng của Tập Cận Bình về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời gian làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc với nhiều biện pháp xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ như “tám quy định”, “phản 4 phong”,. bao gồm: nhận biết, phân loại cán bộ; tuyển chọn cán bộ; sử dụng cán bộ; bồi dưỡng cán bộ; đánh giá cán bộ; giúp đỡ cán bộ phạm sai lầm sửa chữa sai lầm; giải quyết các khó khăn thực tiễn của cán bộ,. Đây là những tư tưởng có ý nghĩa quan trọng trong chỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Trung Quốc hiện nay.

Leadership Education and Training in China: Đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc [188]. Từ thực tế công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc với 4.500 cơ sở giáo dục và đào tạo cho cán bộ và 15 triệu quan chức Trung Quốc được đào tạo mỗi năm, tác giả đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn sâu sắc về cách Trung Quốc giáo dục và đào tạo cán bộ để điều hành quốc gia. Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) đến nay, công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc trải qua 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn 1 (1921-1949) từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đến khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, giáo 10 dục thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận. Việc đào tạo cán bộ giai đoạn này tập trung vào việc giảng dạy và phổ biến triết học mác-xít giữa các đảng viên và cán bộ.

(2) Giai đoạn 2 (1949-1978) từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đến khi bắt đầu cải cách và mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển từ đảng cách mạng sang một đảng cầm quyền, mạng lưới các trường đảng xuất hiện đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. (3) Giai đoạn 3 (1978-nay) từ khi cải cách và mở cửa cho đến nay, việc giáo dục đào tạo cán bộ nhằm mục đích tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo định hướng đổi mới sáng tạo. - Lương Bảo Hoa (2017), Đường đến thành công: tiên phong là sức mạnh [42]. Với thực tiễn là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ HĐND tỉnh Giang Tô, tác giả đã ghi lại sự trải nghiệm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Giang Tô.

Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ có tố chất cao đòi hỏi bí thư tỉnh ủy phải nắm được những yêu cầu trong bố trí cán bộ lãnh đạo, việc lựa chọn cán bộ phải chính xác, phải lấy đức làm đầu. Tác giả bàn về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, những yếu tố cấu thành năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Viêng Khăm, trong đó có các nhóm yếu tố: năng lực tư duy lý luận; năng lực nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và bối cảnh địa phương; năng lực tổ chức thực tiễn; năng lực giao tiếp, vận động và thuyết phục quần chúng nhân dân. Nhóm năng lực này đòi hỏi cán bộ phải thực hiện nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần gương mẫu. Tác giả cho rằng gương mẫu là yếu tố tạo nên niềm tin của quần chúng, tạo nên sự bền vững của mối quan hệ cán bộ - nhân dân.

- Hồng Hướng Hoa (2018), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa, tố chất cao trong thời đại mới (新时代高素质专业化干部队伍建设/作者: 洪向华; 出 版社:中共党史出版社; 2018年) [190]. Từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ được đặt ra tại Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả đã phân tích một số nội 11 dung về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ một cách chuyên môn hóa và có phẩm chất đạo đức cao, từ đó chỉ ra tác dụng, tiêu chí, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ. Luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, trong đó phân tích lý luận về đội ngũ bí thư - huyện trưởng; làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. Trong các phương thức xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng, tác giả xác định phương thức thông qua phát huy vai trò gương mẫu, tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi bí thư - huyện trưởng.

Đây cũng là một phương thức thực hiện TNNG của cán bộ. Luận án đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và đề xuất các giải pháp để xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Các công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài gồm các nhóm sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu về cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý * Sách tham khảo, chuyên khảo - Ngô Kim Ngân, Lâm Quốc Tuấn (2010), Phong cách làm việc của người bí thư huyện ủy hiện nay - Qua khảo sát vùng đồng bằng sông Hồng [78].

Cuốn sách phân tích một số vấn đề lý luận về phong cách làm việc của bí thư huyện ủy - chức danh CBH diện BTVTU quản lý, đánh giá thực trạng phong cách làm việc của bí thư huyện ủy và đề xuất những giải pháp để xây dựng phong cách làm việc của bí thư huyện ủy. Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về cán bộ diện BTVTU quản lý và luân chuyển cán bộ diện BTVTU quản lý. Tác giả đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ diện BTVTU quản lý, trong đó có CBH diện BTVTU quản lý. Đây cũng là khách 12 thể nghiên cứu của đề tài luận án nên có giá trị tham khảo cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.

Cuốn sách là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả. Có bài viết bàn về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong các mối quan hệ, trong các lĩnh vực công tác như bài viết Mối quan hệ giữa bí thư với cấp ủy của tác giả Nguyễn Minh Tuấn; bài viết về Thẩm quyền và trách nhiệm của bí thư cấp ủy cấp huyện, xã và tương đương của tác giả Bùi Đức Hạnh đã xác định rõ thẩm quyền của bí thư cấp ủy như chủ trì, đề xuất các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách mới, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH); chủ trì chuẩn bị phương án về công tác tổ chức, cán bộ trình thường trực và BTV cấp ủy quyết định theo thẩm quyền; chịu trách nhiệm cuối cùng ký ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về những vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, thẩm quyền chỉ có được khi người đứng đầu cấp ủy là tấm gương sáng về mọi mặt, được tập thể tin yêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ