Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢNG VIÊN 1. Giảng viên và pháp luật về giảng viên 1. Khái niệm giảng viên Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê chủ biên thì: “GV là người giảng dạy ở đại học, cao đẳng hay lớp huấn luyện cán bộ” [28, tr. Như vậy, theo cách hiểu thông thường giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng.
Theo Luật Giáo dục năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học. Để phân biệt với giáo viên-người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, Điều 70, Khoản 3, Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [30]. Điều 66, Khoản 1, Luật Giáo dục năm 2019 quy định “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên” [31]. Khái quát nhất, giảng viên được hiểu là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một ngành/chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng.
Là “bộ phận đặc thù của trí thức Việt Nam”, giảng viên vừa tham gia giảng dạy, vừa tham gia nghiên cứu khoa học. Nhiệm vụ của giảng viên được xác định trên hai phương diện: là 10 nhiệm vụ của viên chức nói chung theo quy định tại Điều 17 Luật Viên chức năm 2010 và nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định tại Điều 72 Luật giáo dục năm 2005 (Theo Điều 69, Luật Giáo dục năm 2019, có hiệu lực từ 01/7/2020). Vai trò của giảng viên được thể hiện qua việc tham gia đào tạo nguồn lực con người, lực lượng lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nhân tài cho đất nước; nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai các kết quả nghiên cứu đó vào đời sống; xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; xây dựng, phát triển kinh tế đất nước. Phân loại giảng viên Phân loại giảng viên dựa trên hai tiêu chí cụ thể là phân loại giảng viên theo nơi làm việc và phân loại giảng viên theo hạng chức danh nghề nghiệp.
- Phân loại theo nơi làm việc + Giảng viên làm việc trong cơ sở giáo dục công lập bao gồm giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng. Giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục công lập là viên chức được tuyển dụng, sử dụng và quản lý theo quy định của pháp luật về viên chức; được ký hợp đồng làm việc, không là công chức hoặc viên chức ở đơn vị sử dụng lao động khác; do nhà trường trả lương và chi trả các khoản khác thuộc chế độ chính sách theo các quy định của pháp luật hiện hành. Giảng viên thỉnh giảng thường phải có trình độ từ thạc sĩ trở lên, có ký hợp đồng thỉnh giảng theo quy định về chế độ giảng viên thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục và các quy định hiện hành liên quan khác được cơ sở giáo dục trả lương, thù lao theo hợp đồng thỉnh giảng. + Giảng viên làm việc trong cơ sở giáo dục tư thục là người thực hiện 11 nhiệm vụ giảng viên và thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng lao động giữa cơ sở giáo dục và giảng viên; không phải là viên chức.
Giảng viên cơ hữu là người ký hợp đồng lao động và do nhà trường trả lương và chi trả các khoản khác thuộc chế độ, chính sách đối với người lao động theo các quy định hiện hành. Giảng viên thỉnh giảng là giảng viên được cơ sở giáo dục thực hiện hoạt động giảng dạy theo chế độ hợp đồng thỉnh giảng. - Phân loại theo hạng chức danh nghề nghiệp Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập đã quy định chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm: Giảng viên cao cấp (hạng I) Mã số: V.01; Giảng viên chính (hạng II) Mã số: V.02; Giảng viên (hạng III) Mã số: V. Mỗi hạng giảng viên sẽ có những yêu cầu, điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp.
Theo đó, để trở thành giảng viên, cá nhân phải đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng. Trong đó, cá nhân muốn trở thành giảng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên; đồng thời có trình độ ngoại ngữ và tin học đạt chuẩn. Về trình độ ngoại ngữ, cá nhân đó phải có trình độ ngoại ngữ bậc 2 (A2) theo quy định tại Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Đối với giảng viên dạy ngoại ngữ thì trình độ ngoại ngữ thứ hai phải đạt bậc 2 (A2).
Trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản. Ngoài những tiêu chuẩn về đào tạo, để trở thành giảng viên, cá nhân còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, như nắm vững kiến thức cơ bản của môn học được phân công giảng dạy và có kiến thức tổng quát về một số môn học có liên quan trong chuyên ngành đào tạo được giao đảm 12 nhiệm; Nắm vững mục tiêu, kế hoạch, nội dung, chương trình các môn học được phân công thuộc chuyên ngành đào tạo; Biên soạn giáo án, tập hợp các tài liệu tham khảo liên quan của bộ môn, chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình, sách hướng dẫn bài tập, thực hành, thí nghiệm;… Theo Thông tư trên, giảng viên là người có nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn và chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp trình độ cao đẳng, đại học; Tham gia giảng dạy chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và hướng dẫn, đánh giá luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nếu có đủ tiêu chuẩn theo quy định. Bên cạnh đó, giảng viên còn có nhiệm vụ tham gia xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo; tham gia đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên; Tham gia công tác chủ nhiệm lớp, cố vấn học tập… Trên đây là những yêu cầu, điều kiện để trở thành giảng viên. Đối với chức danh giảng viên hạng I và II, yêu cầu đặt ra cao hơn.
Đặc điểm nghề nghiệp giảng viên Thứ nhất, giảng viên có trình độ chuyên môn sâu về một lĩnh vực/bộ môn/môn Giảng viên là người có kiến thức khoa học chuyên môn sâu rộng; thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn và thông tin, kỹ thuật để nâng cao chất lượng dạy học và nghiên cứu khoa học. Họ có kiến thức liên môn, liên ngành, hiểu biết thực tiễn và khả năng liên hệ, vận dụng phù hợp vào hoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học, vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp, thành thạo các kỹ năng của lĩnh vực chuyên môn và thường xuyên cập nhật các kỹ năng nghề nghiệp mới. Tuy mỗi giảng viên đều đi chuyên về một ngành nhất định nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì giảng viên phải được trang bị (hoặc tự trang bị) các kiến thức về cả chương trình giảng dạy. 13 Thứ hai, giảng viên có phương pháp giảng dạy phù hợp, bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và dạy/học trong từng chuyên ngành cụ thể.
Bên cạnh phương pháp chung thì mỗi chuyên ngành (thậm chí từng môn học hoặc cùng môn học nhưng khác đối tượng học) đều có những đặc thù riêng biệt đòi hỏi phải có những phương pháp tiếp cận khác nhau, phù hợp từng môn học, người học cũng như điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường, lớp học. Để trở thành giảng viên chính thức, các giảng viên đều phải học và thi các môn học về lý luận về phương pháp giảng dạy đại học. Nếu chỉ sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống (thuyết trình) sẽ không hiệu quả. Phương pháp giảng dạy đang chuyển hướng từ truyền thụ (giảng viên)-tiếp thu (người học) kiến thức sang hướng dẫn, dẫn dắt, định hướng (giảng viên)- sáng tạo, khởi nghiệp (người học), từ giảng dạy nội dung mà giảng viên có sang giảng dạy nội dung mà người học cần và sẽ cần.
Do đó, để thay đổi diện mạo và chất lượng dạy và học hiện nay ở các trường đại học, cần đầu tư nhiều hơn để nâng cấp phương pháp và kỹ thuật giảng dạy của giảng viên. Thứ ba, có am hiểu về tâm lý sư phạm, về người học Giảng viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc khuyến khích tính ham hiểu biết của người học, rèn luyện độc lập khám phá trí tuệ, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức giúp người học đạt được năng lực học suốt đời qua việc tự giáo dục. Để đáp ứng được nhu cầu của dạy và học, giảng viên cần phải có năng lực phẩm chất của một nhà khoa học chân chính và một nhà sư phạm tâm huyết. Người học ở đại học có những đặc điểm đặc trưng là họ là những người trưởng thành cả về thể chất, tâm lý và nhận thức.
Do đó họ phải được ứng xử như người lớn trong mọi hoạt động. Sinh viên là người đã có định hướng về nghề nghiệp gắn với nhu cầu và lợi ích của họ. Vì vậy, dạy học làm sao để 14 kích thích, khơi nguồn, khai phóng được năng lực bản thân, nguyện vọng hướng nghiệp của họ. Sinh viên hoàn toàn có khả năng tự học tập, nghiên cứu, tuy nhiên khả năng đó được phát huy thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cách dạy của giáo viên.
Để góp phần cho hoạt động dạy học đạt kết quả tốt thì phương pháp dạy học phải tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, bồi dưỡng năng lực tự học tập nghiên cứu.