Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT MÔI TRƢỜNG 1. MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT MÔI TRƢỜNG 1. Khái niệm môi trƣờng, sự biến đổi môi trƣờng và sự cần thiết phải bảo vệ môi trƣờng * Khái niệm môi trường Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội thì môi trường đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng được tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, môi trường thế giới nói chung và môi trường ở Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn đến chất lượng các thành phần môi trường ngày càng trở nên xấu hơn và thiên tai xảy ra ngày càng nhiều nên đã gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, tài sản của người dân, đặc biệt trong nhiều trường hợp đã vượt ra ngoài khả năng ngăn chặn và khắc phục của con người.
Từ giác độ lý luận, chúng ta cần "giải mã" được những vấn đề chủ yếu như: Môi trường là gì? Môi trường bao gồm những thành tố nào? Sự biến đổi của môi trường ảnh hưởng như thế nào tới cuộc sống của con người? Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều khái niệm khác nhau về môi trường. Theo Từ điển bách khoa Larouse thì: Môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật. Nói cụ thể hơn, đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó có thể có sự sống hoặc không có sự sống. Các yếu tố đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý, mang tính tổng quát hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ 5 z trụ, năng lượng phát xạ, bảo tồn vật chất.
Trong đó, hiện tượng hóa học và sinh học là những đặc thù của môi trường bao gồm tất cả những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật [46]. Đơn giản hơn, The American Heritage Dictionary định nghĩa "môi trường là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ" [52, tr. Chương trình môi trường của UNESCO (1981) định nghĩa: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa.) và những cái vô hình (tập quán, nghệ thuật.) trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình. Từ những định nghĩa nêu trên cho thấy, môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người, mà còn là "khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người" [54].
Ở Việt Nam, khái niệm về môi trường cũng được một số tác giả quan tâm, cụ thể như: Theo Từ điển tiếng Việt thì "môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy" [47, tr. Trong khi đó, theo PGS.TS Nguyễn Đức Khiển "một cách cô đọng nhất thì môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người" [26]. Khi phân loại môi trường, chúng ta có thể chia môi trường thành ba hệ thống cơ bản là: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo, trong đó: Môi trường tự nhiên, bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tài ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu 6 z sự tác động của con người, như đất, nước, không khí, khí hậu, ánh sáng, động thực vật, sông, biển. Môi trường xã hội, là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người và người.
Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định. Môi trường nhân tạo, bao gồm những nhân tố do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người. Ví dụ: nhà ở, công sở, khu công nghiệp, các cảnh quan kiến trúc, các di tích lịch sử, văn hóa. Giữa ba loại môi trường trên luôn tồn tại một mối quan hệ đan xen và tương tác chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển của xã hội.
Vì vậy, bất cứ một sự biến đổi không có lợi nào đối với chúng cũng sẽ gây ảnh hưởng, tác hại xấu đến chất lượng cuộc sống của con người. Trong khoa học pháp lý, môi trường là khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Theo quy định tại Điều 1 Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, "môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật" [41]. Theo cách định nghĩa này, con người đã trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên.
Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất. Trong số đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn cả. Những yếu tố này được coi là thành phần cơ bản của môi trường. Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người.
Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong một chừng mực nhất định. Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo, do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình. 7 z Từ những phân tích trên cho thấy, môi trường là một khái niệm rộng và đa dạng, được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Với mục đích tìm hiểu việc thực hiện pháp luật môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khái niệm môi trường được đề cập tới trong Luật bảo vệ môi trường là hoàn toàn phù hợp với phạm vi và mục đích nghiên cứu, và cũng là khái niệm được sử dụng trong luận văn này.
Theo đó, môi trường sẽ được cấu thành lên nó bởi một loạt các thành tố. Giữa các thành tố của môi trường có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau, một thành tố bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành tố khác của môi trường. * Sự biến đổi của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường Trong những năm vừa qua, sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số trên phạm vi toàn cầu đang có những tác động lớn đến môi trường. Hoạt động của loài người đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất, làm chất lượng môi trường sống bị giảm sút nghiêm trọng.
Trên phạm vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn ra trên nhiều yếu tố với những cấp độ khác nhau, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như đất, nước, không khí, hệ thực vật, hệ động vật. Có thể kể đến một số biểu hiện nghiêm trọng như: Tầng ôzôn bị suy giảm tạo ra những biến đổi xấu của môi trường trên trái đất; một loạt những thảm họa thiên nhiên liên tiếp xảy ra trong cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI (sóng thần Tsunami ở Đông Nam Á, núi lửa phun trào ở lòng đại dương, động đất ở Nhật Bản.); sự suy giảm của nhiều loại thực vật, sự diệt vong của nhiều loại động vật (ví dụ như sự sụt giảm nghiêm trọng về số lượng của đàn voi ở châu Phi, loài tê giác ở Việt Nam hay loài hổ ở Ấn Độ); hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, do vậy, tình trạng môi trường cũng có những nét chung của môi trường thế giới, bên cạnh những nét riêng do hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau. Thực 8 z tế cho thấy, có nhiều yếu tố môi trường Việt Nam hiện xấu hơn ở nhiều nước trên thế giới, ví dụ như: Môi trường nước ta hiện đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng; đất đai bị xói mòn và thoái hóa, nhiều nơi diễn ra hiện tượng sa mạc hóa; đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm, môi trường vùng ven biển và các lưu vực sông đang có dấu hiệu ô nhiễm ngày càng gia tăng, nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt.
Nhiều đô thị, khu công nghiệp, làng nghề bị ô nhiễm nặng do nước thải, khí thải, chất thải rắn; tình trạng nhập khẩu thiết bị, công nghệ lạc hậu, phế liệu không đáp ứng tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến.Việc khai thác có tính chất hủy diệt các nguồn lợi sinh vật trên cạn và dưới nước chưa bị ngăn chặn, rằng tiếp tục bị tàn phá nặng nề. Diễn biến xấu của môi trường nước ta nói trên đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhân dân, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Pháp luật môi trƣờng * Khái niệm pháp luật môi trường Mặc dù, môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống của con người và sự phát triển của mỗi quốc gia, nhưng pháp luật về môi trường của Việt Nam được hình thành tương đối muộn. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển, sau những năm bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh thì mục tiêu trước mắt là ổn định đất nước và phát triển kinh tế, thậm chí là phát triển bằng mọi giá bất chấp việc phải hy sinh các nguồn tài nguyên, khai thác không tính đến khả năng tái sinh.
Khi đó, môi trường chưa phải là vấn đề cấp thiết được đặt ra. Chỉ đến khi các nguồn tài nguyên đã dần cạn kiệt, sự mất cân bằng sinh thái cùng quá trình thay đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hàng ngày gây nên những hậu quả nghiêm trọng thì vấn đề bảo vệ môi trường mới nổi lên như một thách thức xã hội, và nhu cầu phải hình thành một hệ thống pháp luật môi trường mới thực sự được quan tâm xác đáng.