Tổng quan nghiên cứu

Lao động nữ luôn giữ vai trò nòng cốt trong sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Theo số liệu thống kê quốc gia, phụ nữ chiếm khoảng 50,2% dân số với 49.415 nghìn người và đóng góp 46,5% trong tổng lực lượng lao động xã hội với 23.519 nghìn người. Mặc dù tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nữ giới đạt mức 62,7%, họ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản về tâm sinh lý, thiên chức sinh sản và định kiến giới truyền thống. Tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam, một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù về thi công lắp dựng, tháo dỡ giàn giáo và thiết kế biện pháp thi công, số lượng lao động nữ đã có sự gia tăng từ 13,7% tương đương 14 trên 102 người vào năm 2019 lên mức 18,5% tương ứng 20 trên 108 người vào năm 2023.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của đề án là hệ thống hóa cơ sở lý luận về pháp luật lao động nữ, phân tích toàn diện thực trạng thi hành các quy định pháp luật theo Bộ luật Lao động năm 2019 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023. Trên cơ sở đối chiếu giữa quy định pháp lý và thực tiễn doanh nghiệp, công trình đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi lao động nữ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng môi trường làm việc bình đẳng, nâng mức độ tuân thủ quy chuẩn lao động lên trên 95% và thúc đẩy tối đa năng suất của lực lượng lao động nữ trong thời kỳ hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết bình đẳng giới thực chất trong quan hệ lao động và học thuyết bảo vệ quyền con người của người lao động. Khung lý thuyết này khẳng định bình đẳng giới không dừng lại ở sự cống hiến hình thức mà đòi hỏi sự thừa nhận khác biệt về sinh học để thiết lập các cơ chế bảo vệ đặc thù. Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc phân tích đa chiều bao gồm 5 chế định cốt lõi: việc làm và tuyển dụng, tiền lương và thu nhập, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, và bảo hiểm xã hội.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt đề án bao gồm: lao động nữ theo tinh thần Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, pháp luật về lao động nữ với tính chất là hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ lao động đặc thù, và hành vi phân biệt đối xử trong lao động theo Khoản 8 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019. Các khái niệm này tạo tiền đề khoa học vững chắc để đánh giá mức độ tương thích giữa quy định pháp lý quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế như Công ước số 111 và Công ước số 183 của Tổ chức Lao động Quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Đề án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết nhân sự, quy chế nội bộ, bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ năm 2019 đến năm 2023, kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp khảo sát toàn bộ cỡ mẫu 20 lao động nữ đang làm việc tại doanh nghiệp, kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên 30 lao động nam và phỏng vấn sâu 5 cán bộ quản lý phụ trách nhân sự, an toàn lao động, nâng tổng cỡ mẫu khảo sát lên 55 người.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với lao động nữ bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho đối tượng nghiên cứu trọng tâm tại đơn vị. Các phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu và tổng hợp quy nạp được lựa chọn nhằm đối chiếu chính xác giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Phương pháp này giúp phát hiện nhanh chóng các lỗ hổng thực thi tại doanh nghiệp FDI có tính chất ngành nghề xây dựng nặng nhọc trong mốc thời gian hoàn thành nghiên cứu vào năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và tuyển dụng, tỷ lệ lao động nữ tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam tăng trưởng bền vững qua các năm, từ 13,7% năm 2019 lên 18,5% năm 2023. Lao động nữ tập trung chủ yếu ở các phòng ban chuyên môn như thiết kế biện pháp thi công, kế toán, kho vận và hành chính nhân sự. Hơn 85% lao động nữ được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn định kỳ hàng năm theo thỏa thuận hợp đồng.

Thứ hai, về thu nhập và tiền lương, thu nhập bình quân của lao động nữ tại công ty đạt khoảng 8,5 đến 10,2 triệu đồng mỗi tháng vào tháng 12 năm 2023. Tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ tại đơn vị chỉ ở mức khoảng 1,15 lần, tích cực hơn mức chênh lệch bình quân toàn quốc là 1,2 lần vào năm 2021. Nguyên tắc trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau theo Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 được doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc.

Thứ ba, về chế độ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, 100% lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi đều được giảm 01 giờ làm việc mỗi ngày theo quy định tại Điều 137. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động nữ thực tế đăng ký sử dụng quyền nghỉ 30 phút mỗi ngày trong kỳ kinh nguyệt chỉ đạt khoảng 25% do tâm lý e ngại cá nhân và áp lực hoàn thành định mức tiến độ hồ sơ kỹ thuật.

Thứ tư, về bảo hiểm xã hội và an toàn vệ sinh lao động, 100% lao động nữ ký hợp đồng lao động chính thức được tham gia đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Doanh nghiệp bảo đảm 100% các chế độ trợ cấp thai sản và quyền lợi khám thai 5 lần trong thai kỳ theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 được thanh toán kịp thời, không có trường hợp nào bị sa thải hay đơn phương chấm dứt hợp đồng vì lý do kết hôn hoặc mang thai.

Thảo luận kết quả

Các số liệu nghiên cứu tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu nhân sự theo giới tính và bảng đối chiếu thu nhập bình quân giai đoạn 2019 - 2023. Nguyên nhân của những thành công trên bắt nguồn từ việc doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản, duy trì hệ thống quản trị nhân sự bài bản và ý thức chấp hành pháp luật lao động tương đối chặt chẽ.

Tuy nhiên, đặc thù ngành nghề lắp dựng giàn giáo đòi hỏi sức bền thể lực cao khiến lao động nữ khó tiếp cận trực tiếp công việc ngoài công trường. So sánh với các nghiên cứu tại các khu công nghiệp tập trung ở Bắc Ninh hay Thành phố Hồ Chí Minh, Sugiko có tỷ lệ duy trì việc làm sau sinh tốt hơn đạt 100%, nhưng vẫn gặp khó khăn chung về việc tổ chức không gian vắt trữ sữa mẹ và tối ưu hóa thời gian nghỉ sinh lý cho lao động nữ văn phòng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải kết hợp hài hòa giữa quy chuẩn pháp luật cứng và văn hóa doanh nghiệp linh hoạt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam cần hoàn thiện Thỏa ước lao động tập thể và nội quy lao động trong quý I năm 2025, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động nữ trong bộ máy quản lý lên 22%. Ban lãnh đạo cần bổ sung các điều khoản hỗ trợ chi phí gửi trẻ từ 500.000 đến 1.000.000 đồng mỗi tháng cho lao động nữ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nhằm giảm tải áp lực tài chính gia đình.

Thứ hai, doanh nghiệp cần tiến hành đầu tư 01 không gian riêng tư đạt chuẩn làm phòng vắt, trữ sữa mẹ và nghỉ ngơi y tế tại trụ sở làm việc trước tháng 6 năm 2025 theo đúng tinh thần của Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Doanh nghiệp cần công khai quy trình nghỉ vệ sinh phụ nữ 30 phút mỗi ngày, bảo đảm 100% lao động nữ được hưởng quyền lợi mà không bị đưa vào tiêu chí trừ điểm đánh giá hiệu suất công việc.

Thứ ba, Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở tại công ty cần tổ chức tối thiểu 02 đợt tập huấn chuyên đề mỗi năm về bình đẳng giới và an toàn vệ sinh lao động cho toàn thể cán bộ công nhân viên. Công đoàn cần đóng vai trò cầu nối tích cực trong việc lắng nghe tâm tư, thiết lập kênh tiếp nhận kiến nghị kín đáo để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của lao động nữ khi xảy ra tranh chấp quyền lợi.

Thứ tư, kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoàn thiện văn bản hướng dẫn chi tiết về chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn 2025 - 2026. Cơ chế ưu đãi thuế cần được mở rộng cho các doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nữ dưới 30% nhưng có các khoản chi phúc lợi lớn cho lao động nữ, bảo đảm sự công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản trị doanh nghiệp, Giám đốc điều hành và Trưởng phòng Nhân sự tại các doanh nghiệp xây dựng, kỹ thuật và FDI. Tài liệu cung cấp giải pháp xây dựng quy chế lao động nội bộ chuẩn mực, đáp ứng toàn diện quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Nhóm thứ hai là cán bộ Công đoàn cơ sở và đại diện tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động. Nghiên cứu mang lại những kinh nghiệm thực tế về kỹ năng thương lượng Thỏa ước lao động tập thể, cách thức giám sát thực thi chế độ bảo hiểm xã hội, thai sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ giới.

Nhóm thứ ba gồm các giảng viên, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và Quản trị Nhân lực. Luận văn là nguồn tư liệu học thuật có giá trị với hệ thống số liệu thực chứng chi tiết về áp dụng luật tại doanh nghiệp cụ thể từ năm 2019 đến năm 2023.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước về lao động như Thanh tra Lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách, hoàn thiện các quy định kiểm tra và tháo gỡ vướng mắc trong chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động nữ.

Câu hỏi thường gặp

Bộ luật Lao động năm 2019 có điểm gì tiến bộ vượt bậc về quyền của lao động nữ? Bộ luật đã chuyển dịch mạnh mẽ từ bảo vệ mang tính loại trừ sang thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Điển hình là việc xóa bỏ danh mục cấm lao động nữ làm việc nặng nhọc, trao quyền tự quyết cho người lao động trên cơ sở cung cấp đầy đủ thông tin an toàn theo Điều 137 và Điều 142.

Lao động nữ tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam được hưởng chế độ thai sản như thế nào? 100% lao động nữ tại công ty được nghỉ thai sản 6 tháng hưởng nguyên chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định. Sau khi trở lại làm việc, người lao động được bảo đảm giữ nguyên vị trí, mức lương từ 8,5 đến 10,2 triệu đồng mỗi tháng và được giảm 01 giờ làm việc mỗi ngày khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Vì sao tỷ lệ lao động nữ sử dụng thời gian nghỉ sinh lý 30 phút mỗi ngày còn thấp? Thực tế ghi nhận chỉ khoảng 25% lao động nữ đăng ký do tâm lý e ngại chia sẻ thông tin tế nhị với cấp quản lý. Bên cạnh đó, áp lực tiến độ công việc và định mức giao khoán khiến người lao động tự nguyện bỏ qua thời gian nghỉ ngơi để hoàn thành nhiệm vụ.

Doanh nghiệp xây dựng có gặp trở ngại khi thực hiện quy định về an toàn lao động nữ không? Có, do tính chất công việc giàn giáo nặng nhọc ngoài hiện trường nên doanh nghiệp phải điều chỉnh bố trí 100% lao động nữ vào các khâu kỹ thuật văn phòng, kho bãi và thiết kế. Điều này đòi hỏi chi phí đào tạo chuyển đổi chuyên môn tương đối lớn cho nhân sự nữ.

Điều kiện để doanh nghiệp được xét giảm thuế thu nhập khi sử dụng lao động nữ là gì? Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp phải sử dụng từ 10 đến dưới 100 lao động nữ với tỷ lệ chiếm từ 50% tổng số lao động, hoặc từ 100 đến dưới 1.000 lao động nữ với tỷ lệ chiếm từ 30% trở lên mới được xét hưởng chính sách giảm thuế theo Thông tư 78/2014/TT-BTC.

Kết luận

  • Đề án thạc sĩ khẳng định tính đúng đắn và cấp thiết của việc áp dụng Bộ luật Lao động năm 2019 trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ tại doanh nghiệp kỹ thuật xây dựng.
  • Thực tiễn tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sugiko Việt Nam cho thấy tỷ lệ lao động nữ tăng trưởng vững chắc từ 13,7% lên 18,5% trong giai đoạn 2019 - 2023 với thu nhập bình quân ổn định.
  • Công tác thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, tiền lương và an toàn lao động được thực hiện nghiêm túc, dù vẫn còn rào cản trong việc thực hiện quyền nghỉ sinh lý và chế độ hỗ trợ nhà trẻ.
  • Hệ thống giải pháp kiến nghị mang tính khả thi cao, gắn liền giữa việc sửa đổi quy chế nội bộ doanh nghiệp với việc hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2024 - 2026 đặt trọng tâm vào đầu tư cơ sở vật chất, phát huy vai trò Công đoàn cơ sở, hướng tới xây dựng môi trường làm việc bình đẳng, văn minh và phát triển bền vững cho phụ nữ.