Chương 1. Một số vấn đề lý luận về lao động nữ và pháp luật về lao động nữ Chương 2. Thực trạng pháp luật về lao động nữ và thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động nữ tại Công ty TNHH SUGIKO Việt Nam Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động nữ tại Công ty TNHH SUGIKO Việt Nam trong thời gian tới 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ 1.
Một số vấn đề lý luận về lao động nữ 1. Khái niệm về lao động nữ Có quan điểm cho rằng, lao động nữ là NLĐ mang giới tính nữ, đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết HĐLĐ. Trong một số trường hợp có thể chưa đủ 15 tuổi, nhưng phải thuộc các trường hợp pháp luật cho phép. Bằng một cách tiếp cận khác, có quan điểm lại cho rằng, NLĐ nữ trước tiên phải là NLĐ (đáp ứng đủ các điều kiện như: từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ) và là người có giới tính nữ.
Xuất phát từ vai trò to lớn và tính đặc thù của lao động nữ, pháp luật quốc tế cũng như luật pháp ở mỗi quốc gia đã có nhiều quy định quan trọng để điều chỉnh loại hình lao động này. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật mới chỉ đưa ra thuật ngữ “người lao động” mà chưa có quy định cụ thể về khái niệm “lao động nữ”. Tại Công ước 155 về An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc (1981), NLĐ được định nghĩa là bao gồm tất cả những người đang được sử dụng, kể cả công chức. Hiểu theo nghĩa rộng, NLĐ bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong xã hội; theo nghĩa hẹp NLĐ là những người làm công cho các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cá nhân gia đình trên cơ sở HĐLĐ.
Và trong phạm vi luật lao động, thì NLĐ chủ yếu được sử dụng theo nghĩa hẹp. Giới tính theo cách hiểu thông thường chính là sự khác biệt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Người lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 được hiểu là: “Người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành giám sát của người sử dụng lao động. 11 Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường họp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này” [12, Điều 3, Khoản 1].
Theo Từ điển Luật học, lao động nữ là: “Người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động họ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng” [49, tr. Theo đó, về tinh thần xuyên suốt của Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ được xác định là người lao động có giới tính nữ khi họ có đầy đủ các yếu tố về năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động để tham gia vào quan hệ lao động. Trong một số trường hợp đặc biệt, lao động nữ vẫn có thể là người dưới 15 tuổi, ví dụ như trẻ em dưới 15 tuổi, có khả năng lao động cũng có thể tham gia các quan hệ lao động trong những ngành nghề như: múa, hát, sân khấu điện ảnh, mỹ thuật, hội họa. khi thỏa mãn các điều kiện về sức khỏe, trình độ và thời gian làm việc.
Với tư cách này, họ cũng có những quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định. Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm về lao động nữ như sau: Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ tham gia vào quan hệ lao động, lao động nữ mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động. Đặc điểm của lao động nữ Lao động nữ trước hết là người lao động nên họ cũng có những đặc điểm của người lao động nói chung như: (i) là những người thuộc độ tuổi lao động theo pháp luật lao động; (ii) làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận; (iii) được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, lao động nữ còn có những đặc điểm riêng thể hiện tính đặc thù, tạo sự khác biệt với lao động nam như sau: Thứ nhất, về mặt sinh lý 12 Nói đến phụ nữ, người ta thường nhắc đến thiên chức làm vợ, làm mẹ, đảm nhận công việc nội trợ, chăm sóc gia đình.
Với đặc thù về chức năng sinh sản để duy trì nòi giống, phụ nữ phải trải qua các giai đoan sinh lý đặc biệt như: Thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ. Đây là thiên chức của người phụ nữ đã được tạo hóa ban tặng mà nam giới không thể làm thay hay thực hiện được. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và khả năng lao động của phụ nữ. Đây cũng là đặc điểm quan trọng để xem xét cũng như đánh giá các đặc trưng và các yếu tố ảnh hưởng dến lao động nữ.
Thứ hai, về mặt tâm lý Đối với người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng trong một thời gian dài, do tập tục, quan niệm và thành kiến “trọng nam, khinh nữ”, người phụ nữ luôn bị coi thường và lệ thuộc vào người đàn ông. Vì thế, trong xã hội, vai trò và giá trị của người phụ nữ bị hạ thấp, ngay cả khi tham gia các quan hệ lao động, công việc của họ cũng bị hạn chế và gặp nhiều khó khăn, rào cản hơn. Thứ hai, về mặt thể trạng và sức khỏe So với nam giới, cơ thể phụ nữ không có cấu tạo thể chất để chịu đựng những tác động lớn và dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại, nguy hiểm. Tuy vậy, bù lại, lao động nữ lại có sự khéo léo, dẻo dai, tỉ mì, cẩn thận và bền bỉ trong nhiều công việc.
Do đó, đối với các công việc nặng nhọc như: khuân vác, vận chuyển vật nặng, xây dựng công trường hay làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản như: mò, vớt gỗ chìm, kéo gỗ trong rừng sâu, triền đưa gỗ lên bờ, xuôi bè mảng trên sông có nhiều ghềnh thác, chế biến hóa chất, thuốc trừ sâu. thường sẽ do nam giới đảm nhiệm, còn những công việc đòi hỏi sự cẩn thận, khéo léo, chi tiết như nghề may mặc, chế biến thực phẩm, thủ 13 công mỹ nghệ thường do nữ giới thực hiện. Như vậy, lao động nữ vừa có những đặc điểm chung của người lao động lại có những đặc trưng riêng mang tính đặc thù, chi phối đến quan hệ lao động. Đây cũng là cơ sở quan trọng để pháp luật các quốc gia có những chính sách đặc thù cho lao động nữ khi tham gia vào quan hệ lao động.
Vai trò của lao động nữ trong đời sống xã hội Có thể nói rằng, nếu gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào ấy. Người phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng ở bất cứ thời đại nào, quốc gia dân tộc nào cũng luôn giữ vai trò trọng yếu trong việc sáng tạo, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đó. Lao động nữ vừa là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, vừa phải đảm nhiệm chức năng làm mẹ để duy trì giống nòi và phát triển xã hội. Do đó, vai trò của lao động nữ trong thị trường lao động và sản xuất xã hội là không thể phủ nhận và ngày nay vai trò ấy càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo, nghiên cứu Giới và thị trường lao động ở Việt Nam: Phân tích dựa trên số liệu điều tra lao động - việc làm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam thực hiện cho thấy tỉ lệ phụ nữ trên toàn cầu trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động là 47,2% và tỉ lệ trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương là 43,9% [50]. Đặc biệt, dựa trên Bản đồ Phụ nữ tham chính năm 2020 của Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) và Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), phụ nữ có xu hướng tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào đời sống chính trị - xã hội của các nước. Hiện nay, có đến 20 quốc gia có phụ nữ làm nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2020, 6,6% nguyên thủ quốc gia được bầu là phụ nữ (10/152) và 6,2% nữ lãnh đạo chính phủ (12/193).
Tỷ lệ nữ Chủ tịch Quốc hội trên thế giới là 14 20,5% vào năm 2020 và con số này gấp đôi so với 25 năm trước. Năm 2019, lần đầu tiên 7 quốc gia đã bầu Chủ tịch Quốc hội là Andorra, Belarus, Congo, Indonesia, Kazakhstan, Malawi và Togo. Hơn nữa, theo một nghiên cứu gần đây ở Jordan đã phát hiện rằng những công ty có đại diện phụ nữ trong Hội đồng quản trị có số doanh thu trên tài sản cao hơn khoảng ba lần và gấp đôi vốn chủ sở hữu so với các công ty không có đại diện phụ nữ tại Hội đồng quản trị. Tại Việt Nam, theo thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm quý IV và năm 2022 của Việt Nam do Tổng cục Thống kê cung cấp thì: “Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,7 , thấp hơn 12,8 điểm phần trăm so với nam 75,4.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 66,4 , trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 70,4 ” [51]. Trong đó, Quốc hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016 - 2021 là nhiệm kỳ đầu tiên Việt Nam có nữ Chủ tịch Quốc hội và 26,7% đại biểu là nữ. Quốc hội khóa XV nhiệm kỳ 2021 - 2026, trong 499 đại biểu, tỉ lệ nữ đại biểu là 30,26% và Việt Nam là một trong số ít nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25%. Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ Việt đã đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của quốc gia như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng, Thứ trưởng.