Chương 1. Lý luận về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông Chương 2. Thực trạng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến nay Chương 3. Quan điểm bảo đảm thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 8 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG 1.
Cơ chế một cửa và một cửa liên thông 1. Quan niệm về cơ chế một cửa, một cửa liên thông 1. Cơ chế một cửa a. Khái niệm về cơ chế một cửa Theo Từ điển Tiếng Việt, “cơ chế” là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”.
Tương tự, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện [46]. Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “cơ chế”. Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO, các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” [21, tr. Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới – World Trade Organization.
Theo các tác giả của cuốn sách này, thì nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng [28]. Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể 9 z nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế.
Đó là: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề cập đến các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó. Thuật ngữ “dịch vụ một cửa” xuất phát từ thuật ngữ Tiếng Anh tương ứng là “one stop service”.
Trên thực tế, “one stop service” là khái niệm mà các nước Châu Á thường sử dụng, còn khối các nước Âu Mỹ sử dụng một thuật ngữ tương tự là “one stop shop”. Cho đến nay, chưa có một tài liệu chính thức nào đề cập đến nguồn gốc của thuật ngữ này, nhưng người ta vẫn thường công nhận “one stop shop” là thuật ngữ được sử dụng lần đầu tiên tại các chính quyền địa phương trên lãnh thổ Vương quốc Anh để mô tả về dịch vụ mà họ cung cấp cho công dân trong quá trình thương thảo và thực hiện các dịch vụ công. Khi đưa ra ý tưởng về loại hình “one stop shop” này, những nhân viên của chính quyền Anh dựa trên ý tưởng về một đầu mối liên hệ duy nhất để giải quyết nhiều công việc khác nhau, nhưng họ cũng nhằm thêm một mục đích về mặt đảm bảo an ninh là hạn chế bớt số lượng công dân đi vào tòa thị chính thành phố. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, người ta đã nhận thấy nhiều ưu điểm của mô hình này, và dần dần khái niệm về “one stop shop” chỉ còn nhìn nhận như là một loại hình dịch vụ trong đó chỉ cần một đầu mối liên hệ mà có thể giải quyết được nhiều công việc.
Hiện nay, khái niệm “dịch vụ một cửa” đã được phát triển rộng hơn rất nhiều Ở Việt Nam, trong lĩnh vực hành chính, cơ chế "một cửa" về thực hiện thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức đã được đề ra đầu tiên trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Quyết 10 z định số 366/HĐBT ngày 7/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Cơ chế "một cửa" và "một cửa tại chỗ" đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất sau đó là các khu công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên những kết quả và chuyển biến bước đầu trong việc áp dụng cơ chế "một cửa" trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thể hiện ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp. Yêu cầu của Nghị quyết là "nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội và giữa cơ quan nhà nước với công dân".
Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Để đáp ứng yêu cầu đó Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 181/2003/TTg về việc thực hiện cơ chế “Một cửa” đối với các cơ quan hành chính Nhà nước (Quyết định 181). Theo quyết định này, cơ chế một cửa được định nghĩa như sau: Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước [5]. Đặc điểm của cơ chế một cửa Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước nên nó có các đặc điểm sau: Thứ nhất, cơ chế một cửa là cách thức thực hiện một thủ tục hành chính đơn giản theo đúng quy định của pháp luật.
Khi thực hiện cơ chế một cửa thì các cơ quan hành chính nhà nước khi tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả hồ sơ cho công dân tại một đầu mối duy nhất nên người dân không mất thời gian, công sức liên hệ với các bộ phận khác. Thứ hai, cơ chế một cửa khi thực hiện sẽ tạo ra sự thuận tiện và tiết kiệm cho người dân. Để yêu cầu Nhà nước cung cấp một thủ tục hành chính, người dân chỉ cần tới một bộ phận duy nhất là Bộ phận TNHS và TKQ mà không cần quan tâm tới việc bộ phận nào xử lý, thực hiện cung cấp thủ tục hành chính đó. Điều này đảm bảo cho người dân tiết kiệm tối đa thời gian giao dịch và chi phí đi lại liên hệ vì đã có thời gian cụ thể do bộ phận "một cửa" giao kết tại phiếu hẹn.
Thứ ba, cơ chế một cửa được thực hiện công khai minh bạch. Theo quy định của pháp luật, khi thực hiện cơ chế một cửa, các cơ quan hành chính nhà nước phải công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân. Người dân được công khai các quy định thống nhất về hồ sơ, trình tự và thời gian giải quyết thủ tục cho từng loại công việc cụ thể; nếu không thuộc phạm vi trách nhiệm giải quyết tại bộ phận "một cửa" thì được tư vấn đầy đủ để thực hiện tại các cơ quan hành chính khác. Thứ tư, cơ chế một cửa đặt ra yêu cầu đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận trong cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.
Cơ chế một cửa liên thông a. Khái niệm về cơ chế một cửa liên thông Cơ chế “một cửa” chỉ khắc phục được sự phiền hà trong phạm vi một cấp hành chính. Hiện nay có nhiều TTHC không chỉ liên quan đến một hay một số cơ quan hành chính cùng cấp và cấp trên, nên cơ chế “một cửa” của cơ quan hành chính nào, chỉ có thể giúp cho cơ quan đó giảm bớt phiền hà, đối với những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền. Đây cũng chính là cơ sở để chính phủ ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (viết tắt “Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg”).
Tại khoản 2, Điều 1 của Quy chế quy định: Cơ chế một cửa liên thông là cách thức giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả, được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước [6].