Chương 1: Một số van đề cơ bản về phá sản và pháp luật phá sản; Chương 2: Nôi dung của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản theo Luật phá sản năm 2014; Chương 3: Thực tiễn thi hành thủ tục phá sản và một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả thủ tục phá sản theo Luật phá sản năm 2014. CHUONG 1 MOT SO VAN DE CO BAN VE PHA SAN VA PHAP LUAT PHA SAN 1. Khái quát doanh nghiệp mat khả năng thanh toán nợ đến han 1. Khái niệm doanh nghiệp mắt khả năng thanh toán nợ đến hạn “Phá sản” hay “vỡ nợ” là tình trạng xảy ra khá phổ biến trong nên kinh tế thị trường, đặc biệt khi các doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt, sự khan hiếm nguồn vốn hay sự quản lý tài chính lỏng lẻo.
Nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được giải thích theo nhiều quan niệm khác nhau. Ở các nước châu Âu, khi nói đến phá sản người ta thường dùng thuật ngữ "Bankruptcy" hoặc "Banqueroute". Từ này bắt nguồn từ chữ Banca Rotta trong tiếng La Mã cổ có nghĩa là " chiếc ghế bị gãy". Thời đó, các thương gia của thành phố thường tập trung lại thành "hội nghị các thương gia", thương gia nào mat khả năng thanh toán nợ cũng đồng thời mat luôn quyền tham gia hội nghị, do đó ghế của thương gia này bị dem ra khỏi hội trường [28; tr3].
Do đó, ở La Mã thời đó có nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì "chuôn là hơn", nên họ thường bỏ trốn. Dé ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ trả cho chủ nợ. Cách làm này cũng thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người. Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì dé xảy ra tranh chấp.
Bởi thế người ta thấy dé tòa án địa phương (của con nợ) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của mỗi người [35]. Cùng với sự phát triển của nên kinh tế, chế định này được hoàn chỉnh và đã được nâng lên thành Luật Phá sản của Nhà nước La Mã cô đại. Ở những quan niệm khác, có người cho rằng từ phá sản bắt nguồn từ chữ "ruin" trong tiếng la-tinh, có nghĩa là "sự khánh tan". Khái niệm nay dùng dé chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một nhà kinh doanh.
Biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn (insolvency) [24]. Định nghĩa pháp lý về tình trạng phá sản của doanh nghiệp là nội dung quan trọng của pháp luật phá sản. Quy định về tình trạng phá sản là căn cứ dé xác định phạm vi tác động của pháp luật phá san và là căn cứ dé tòa án áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Do đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như hệ thống pháp luật của các nước có sự khác nhau, nên quan điểm về tình trạng phá sản của doanh nghiệp trong pháp luật các nước có sự khác biệt.
Pháp luật về phá sản của các nước trên thê giới hiện nay đang sử dụng hai quan điêm sau: - Quan điểm "định lượng": theo quan điểm này một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản, khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá trị tối thiêu đã được an định trong Luật Phá sản. - Quan điểm "định tính": xác định tình trạng phá sản không phụ thuộc vào giá trị khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không trả được, một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu tông số nợ của doanh nghiệp vượt quá khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó.113, 114] Luật Phá sản Việt Nam 2004 đã đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 3 như sau: "DN, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu câu thì coi là lâm vào tình trạng pha san.” Luật Pha sản (2004) cũng như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 không đưa ra định nghĩa thế nào là pha sản mà chỉ đưa ra khái nệm DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản. Khái niệm phá sản lần đầu tiên được quy định trong Luật Phá sản (2014) tại Khoản 2, Điều 4 với nội dung như sau: “Phd sản là tinh trang của DN, HTX mat khả năng thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố phá san”. Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản (2014) cũng đưa ra khái niệm thé nào là DN, HTX mat khả năng thanh toán, theo đó: “DN, HTX mất khả năng thanh toán là DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kề từ ngày đến hạn thanh toán” Có thé thấy, nếu như Luật Phá sản (2004) chỉ quy định chung chung thì Luật Phá san (2014) đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thé hơn.
Luật Phá sản (2014) không còn dùng khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, hay “không có khả năng thanh toán được” như trước mà dùng khái niệm “mat khả năng thanh toán” và “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ”. Luật Phá sản (2004) không quy định dấu hiệu cụ thé dé xác định doanh nghiệp mat khả năng thanh toán nợ đến hạn còn Luật Phá sản (2014) đã xác định rõ doanh nghiệp mat khả năng thanh toán là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kê từ ngày đến hạn thanh toán. Nghiên cứu dau hiệu mat kha năng thanh toán nợ đến hạn, ta có thê thây một sô đặc điêm sau: Thứ nhất, mat khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp hoàn toàn cạn kiệt tài sản, doanh nghiệp có thé có nhiều tài sản mà vẫn mat khả năng thanh toán. Thứ hai, mat khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp không thanh toán được nợ mà nó còn thé hiện doanh nghiệp dang lâm vào tình trang tài chính tuyệt vọng, không có giải pháp dé trả được nợ, trừ khi có sự can thiệp của tòa án hoặc sự giúp đỡ của chủ nợ.
Thứ ba, do tình hình tài chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau nên pháp luật không quy định mất khả năng thanh toán cụ thể một khoản nợ bao nhiêu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản; có doanh nghiệp nợ chỉ một trăm triệu đã không thê trả được nợ nhưng cũng có doanh nghiệp nợ tới một vài tỷ vân có khả năng thanh toán. Thứ tu, bản chất của việc mat khả năng thanh toán có thể không trùng với biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không. Nhiều doanh nghiệp không trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi hoạt động của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp sự trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình trạng tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng nhiều cách thức gian tra dé bù dap ngân quỹ như vay nặng lãi, thé chấp tai sản.
Luật Phá sản (2014) không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh DN, HTX không có khả năng thanh toán bằng bảng cân đối tài chính. Như vậy, chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời điểm tòa án quyết định việc mở thủ tục phá sản mà DN, HTX vẫn không thanh toán là tòa án có thê ra quyết định mở thủ tục phá sản. Việc bỏ từ “các” trong cụm từ “các khoản nợ” đã thé hiện rõ tiêu chí mat khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ mà chỉ cần một khoản nợ. Bên cạnh đó, Luật Phá sản (2014) cũng không quy định giới hạn các khoản nợ nao.
Điều này có thé hiểu là bất kỳ khoản nợ nào dù là nợ lương, nợ thuế, nợ phát sinh từ hợp đồng. thì chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tô chức đêu có quyên yêu câu mở thủ tục phá sản với DN, HTX. Với những quy định mới của Luật Phá sản (2014), quyền của chủ nợ được bảo đảm tối đa, bởi dé yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ nợ không cần chứng minh đã có yêu cầu thanh toán. Và khi đã được quy định rõ ràng về thời điểm phát sinh quyên và nghĩa vụ thi chủ nợ dé dàng xác định lúc nào họ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời ràng buộc DN, HTX không có khả năng thanh toán rằng tại thời điểm nào thì họ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Ngoài ra, quy định này cũng khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ. Đối với con nợ, nếu không trả nợ đúng hạn, con nợ không chỉ chịu nguy cơ bị khởi kiện dân sự mà còn có thê bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản (2014) vẫn dành một khoảng thời gian 03 tháng ké từ ngày khoản nợ đến hạn dé DN, HTX tự giải quyết những khó khăn về tài chính tạm thời, qua đó tạo thêm cơ hội dé DN, HTX thanh toán nợ và giảm áp lực “đe dọa” nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía chủ nợ. Khái quát tài sản của doanh nghiệp mat khả năng thanh toán nợ dén han Bat kỳ một doanh nghiệp, một tô chức nào muốn tiễn hành kinh doanh cũng đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó biểu hiện dưới dạng vật chất hay phi vật chất gọi là tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp mat kha năng thanh toán nợ đến hạn là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp đó, phục vụ cho hoạt động thương mại 10 Tài sản doanh nghiệp gôm hai loại: Tài sản lưu động và tài sản cô định. + Tài sản lưu động là những tai sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng có giá trị nhỏ hoặc thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyên vốn nhỏ hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản lưu động gồm: (i) Tài sản lưu động sản xuất như: nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ. đang dự trữ trong kho chuẩn bị cho quá trình sản xuất hoặc đang trong quá trình sản xuất do dang; (ii) Tài sản lưu động lưu thông như: thành phẩm, hàng hoá dự trữ, hàng hoá gửi ban; (iii) Tài sản lưu động tài chính: như tiền, các khoản phải thu, đầu tư ngắn hạn.