CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU THỪA KẾ 1. Khái quát về thời hiệu thừa kế 1. Khái niệm thừa kế Khi nói đến thừa kế có thể hình dung và hiểu được đó là sự chuyển dịch khối tài sản từ người đã chết sang người còn sống1. Theo từ điển Luật học: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống.
Thừa kế luôn gắn với sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương diện để duy trì củng cố quan hệ sở hữu” 2. Khái niệm này cho thấy mối quan hệ giữa thừa kế và sở hữu. Đó là, sở hữu là tiền đề phát sinh thừa kế còn thừa kế là phương diện để duy trì và củng cố quan hệ sở hữu. Thừa kế còn được hiểu như sau: “Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho một chủ thể - đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức – theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo các nguyên tắc của xã hội, mà mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy tắc khác nhau do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội… quyết định”3.
Hoặc là: “Thừa kế là một hiện tượng xã hội hình thành từ việc một người chết có để lại tài sản và sự dịch chuyển tài sản của người đó cho những người khác”4. Từ những khái niệm trên, tác giả nhận thấy có thể hiểu “Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết cho một chủ thể khác”. Như vậy, khi một người qua đời, tài sản thuộc sở hữu của người đó sẽ dịch chuyển sang 1 Nguyễn Xuân Quang và Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia TP.
2 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.754 3 Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.176 4 Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2017), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, NXB. 8 cho người còn sống. Việc dịch chuyển này được thực hiện thông qua hai hình thức đó là theo hình thức di chúc và theo quy định của pháp luật.
Khái niệm thời hiệu Trong pháp luật dân sự Việt Nam, thời hiệu được định nghĩa như sau: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”5. Như vậy, thời hiệu là một khoảng thời gian do luật quy định nhưng khoảng thời gian này có điểm đặt biệt so với các khoảng thời gian khác đó là khoảng thời gian này cùng với những điều kiện do luật định thì sẽ phát sinh hậu quả pháp lý nhất định. Với định nghĩa này, có thể nhận thấy thời hiệu có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thời hiệu là một thời hạn6 do luật định. Do đó, các bên không thể thỏa thuận kéo dài hay rút ngắn thời hạn này.
Đây còn là một trong những căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thể. Từ đó tác động đến quyền của chủ thể (quyết định việc hưởng quyền hay không). Vì vậy, chỉ có Nhà nước, cụ thể là cơ quan lập pháp mới có quyền ấn định thời hạn này thông qua việc ban hành luật. Thứ hai, để áp dụng thời hiệu thì phải căn cứ vào các quy định về thời hiệu do luật định.
Chẳng hạn như là “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc”7. Bởi lẽ, hậu quả pháp lý của việc kết thúc thời hiệu sẽ tác động trực tiếp đến quyền của chủ thể nên phải để chính chủ thể quyết định áp dụng hay không áp dụng thời hiệu thì mới công bằng. Cơ quan tố tụng không có quyền tự ý viện dẫn thời hiệu nhằm từ chối yêu cầu của đương sự sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các thừa kế. 5 Khoản 1 Điều 149 BLDS năm 2015 6 Khái niệm thời hạn được quy định tại Điều 144 BLDS năm 2015.
7 khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015. 9 Thứ ba, hậu quả pháp lý khi hết thời hiệu: khi thời hiệu kết thúc thì sẽ có những hậu quả pháp lý phát sinh như là chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện… Ví dụ:8 sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản (10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản) thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản. Người thừa kế chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản khi còn thời hiệu, sau khi hết thời hiệu thì người thừa kế mất quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản. Khái niệm thời hiệu thừa kế Thời hiệu thừa kế là một những loại thời hiệu quan trọng nằm trong quy định của pháp luật dân sự.
Thời hiệu thừa kế là một khái niệm mới xuất hiện trong BLDS năm 2015 và hiện nay chưa có một quy định nào cho biết như thế nào thời hiệu thừa kế. Trước đây, BLDS năm 2005 đã ghi nhận thời hiệu trong chế định thừa kế9 với tiêu đề thời hiệu khởi kiện về thừa kế và được chia thành các loại sau: thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác và thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại. Đến BLDS năm 2015 thì “thời hiệu khởi kiện về thừa kế” được đổi lại thành “thời hiệu thừa kế”. Căn cứ vào quy định về thời hiệu thừa kế10 trong BLDS năm 2015 thì thời hiệu trong thừa kế không phải chỉ là thời hiệu khởi kiện chia di sản, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế, yêu cầu thực hiện nghĩa về tài sản của người chết mà còn bao gồm thời hiệu hưởng quyền dân sự cụ thể là thời hiệu hưởng quyền đối với tài sản.
8 Theo khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015. 9 Điều 645 BLDS năm 2005 “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. 10 Có một tác giả11 đã đưa ra khái niệm thời hiệu thừa kế như sau: “Thời hiệu thừa kế là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được xác lập quyền sở hữu đối với di sản, được miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại hoặc mất quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.” Với khái niệm này, tác giả nhận thấy đã khái quát được các đặc điểm cơ bản của thời hiệu thừa kế: Thứ nhất, thời hiệu thừa kế là một loại thời hiệu trong pháp luật dân sự nên về bản chất, nó vẫn là một thời hạn do luật định, là căn cứ để phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật thừa kế.
Thứ hai, về căn cứ áp dụng thời hiệu thừa kế là các quy định về áp dụng thời hiệu như đã phân tích tại mục 1. Thứ ba, hậu quả pháp lý sau khi hết thời hiệu thừa kế đó là việc chủ thể được hưởng quyền đối với di sản hoặc mất quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết. ❖ Ý nghĩa của quy định về thời hiệu thừa kế: Việc quy định thời hiệu nói chung và thời hiệu thừa kế nói riêng trong pháp luật dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể trong quan hệ thừa kế, đối với xã hội và trong hoạt động tố tụng. Về phương diện chủ thể: quy định về thời hiệu thừa kế nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Những người thừa kế sẽ tự thúc đẩy việc phân chia di sản, xác lập quyền sở hữu của mình cũng như thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại. Đối với 11 Nguyễn Thanh Phúc (2018), “Thời hiệu thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2 (311), tr. 11 các tranh chấp không tự giải quyết được với nhau, các chủ thể sẽ tiến hành khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong thời gian sớm nhất trong thời gian luật định. Về phương diện xã hội: việc quy định về thời hiệu thừa kế nhằm ổn định các quan hệ xã hội, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài không hồi kết, khó giải quyết về sau, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể và sự phát triển của xã hội.
Về phương diện tố tụng: đảm bảo việc giải quyết tranh chấp được diễn ra một cách nhanh chóng, hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành thuận lợi và phán quyết cuối cùng của Tòa án sẽ hợp lý, khách quan hơn. Bởi lẽ, sự việc càng để lâu thì hoạt động thu thập chứng cứ sẽ gặp khó khăn và những chứng cứ đó sẽ không phản ánh được đúng bản chất của sự việc, làm ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của Tòa án. Sơ lược về thời hiệu thừa kế trong pháp luật Việt Nam từ năm 1950 đến nay Thời hiệu thừa kế trong pháp luật Việt Nam từ năm 1950 đến nay được chia làm hai thời kỳ, gồm: thời kỳ không có quy định về thời hiệu thừa kế và thời kỳ có quy định về thời hiệu thừa kế. Trước khi Pháp lệnh Thừa kế 1990 được thông qua, tính từ ngày 02/09/1945 đến trước ngày 30/08/1990.
Đây là thời kỳ không có quy định về thời hiệu thừa kế và thời kỳ này chỉ có hai văn bản pháp luật có quy định về thừa kế.