CHƯƠNG 1. THIẾT KẾ BỘ CÔNG CỤ KĨ NĂNG TƯ DUY CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài * Về khái niệm tư duy: các nhà nghiên cứu giáo dục học quan niệm rằng “Tư duy là giai đoạn cao nhất của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và tư duy”. [9] Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết” [11] Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đinh Thị Kim Thoa quan niệm “Tư duy là một quá trình tâm lí (nhận thức) phản ảnh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng mà trước đó con người chưa biết tới”.
(4) Tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ (ngôn ngữ là phương tiện của tư duy): thông qua ngôn ngữ, con người có thể truyền đạt tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức tình huống có vấn đề và phản ánh bản chất, mối quan hệ của sự vật, hiện tượng. Nếu không có ngôn ngữ, tư duy không được thể hiện và phát triển. Đồng thời, ngôn ngữ góp phần vào sự phát triển của tư duy, cùng với sự phát triển của tư duy, ngôn ngữ cũng được phát triển và làm phong phú thêm, với nhiều khái niệm mới trên cơ sở những thành tựu tư duy đã tiếp thu. 14 Với các loại hình ấy, theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn [4]: về cơ bản, tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trí tuệ để giải quyết một vấn đề hoặc nhiệm vụ.
Một cá nhân có tư duy hay không phụ thuộc vào việc họ có các thao tác này trong đầu hay không, vì vậy các thao tác này còn được gọi là quy luật nội tại của tư duy. Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác sau: 15 16 Tác giả V. Kruchetxki quan niệm “kĩ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước”. Theo tác giả, kĩ năng được hình thành thông qua thực hành, kĩ năng tạo ra khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà còn trong những điều kiện thay đổi.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy “kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kĩ thuật hành động, có kĩ năng, …” [40] Trong từ điển Tiếng Việt, kĩ năng “là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế”. [34] Từ điển tâm lí học thì quan niệm “kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. Điều này có nghĩa là kĩ năng được hoàn thiện qua luyện tập bởi kỹ năng là một trong những khả năng của con người, cá nhân rèn luyện và phát triển thông qua quá trình học tập thực tiễn. [9] Như vậy, từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng kĩ năng có thể được hiểu là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được để thực hiện hoặc giải quyết các tình huống nhằm đạt được kết quả mong đợi.
Về kĩ năng tư duy, cho đến nay, chưa có định nghĩa chính xác KNTD là gì, mỗi nhà nghiên cứu xem xét nó từ một góc độ để đi đến một định nghĩa về KNTD. Các định nghĩa này thường tập trung vào mô tả, thể hiện các đặc trưng 17 Về các cấp độ của KNTD: Trên cơ sở thang nhận thức của Bloom và căn cứ vào yêu cầu cần đạt của chương trình môn học Lịch sử và Địa lí 6, có thể phân bậc các cấp độ KNTD của HS lớp 6 theo các mức độ sắp xếp theo trình tự từ thấp đến cao: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao. Ví dụ, trong bài 18: Bước ngoặt lịch sử đầu thế kỉ X – sách Lịch sử và Địa lí 6 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), có thể phân loại các cấp độ KNTD của HS như sau: Mức độ 1. Nhận biết: Ở mức độ này, HS có thể nhận biết, ghi nhớ các thông tin, dữ kiện lịch sử đã được học, có thể nhắc lại từ các sự kiện đơn giản đến lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết.
18 19 HS lớp 6 đã bắt đầu có các kĩ năng như thu thập thông tin, quan sát và lớp 6 khả năng nhạy bén trong tư duy còn hạn chế, luôn bị động trước cái mới; từ đó dẫn tới sự lúng túng, khó khăn khi kĩ năng phân tích và giải quyết vấn đề. Có thể thấy rằng sự phát triển KNTD của người học nói chung và HS lớp 6 nói riêng là một phần trong những yêu cầu mà ở tất cả các cấp học phải đạt được để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục. Việc hình thành và phát triển KNTD cho HS cần hướng tới việc giúp các em biết cách suy luận, phân tích, phát hiện và giải quyết vấn đề, biết cách học, tự học, có tư duy sáng tạo… Khi rèn được KNTD lịch sử cho HS sẽ giúp hình thành và phát triển năng lực tư duy cho HS. * Bộ công cụ và bộ công cụ kĩ năng tư duy trong dạy học môn Lịch sử: Về bộ công cụ, theo từ điển Tiếng Việt, công cụ là cái được dùng để tiến hành một việc nào đó hoặc để đạt được đến một mục đích nào đấy.
[35] Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm bộ công cụ là tập hợp các công cụ hỗ trợ để tiến hành hoạt động học tập phát triển tư duy. Về bộ công cụ KNTD trong dạy học môn Lịch sử, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu và đưa ra các quan điểm về bộ công cụ dạy KNTD. Tuy nhiên, từ mục đích của việc sử dụng bộ công cụ, chúng tôi đưa ra quan niệm như sau: bộ công cụ dạy KNTD trong dạy học môn Lịch sử là tập hợp các công cụ học tập như câu hỏi, bài tập, dự án,… góp phần rèn luyện KNTD lịch sử cho HS. Cơ sở xuất phát của vấn đề 1.
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử và Địa lí cấp THCS Chương trình GDPT 2018 đã xác định rõ “Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu GDPT, giúp HS làm chủ kiến thức phổ thông, biết 20 vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” Để thực hiện được mục tiêu này, người GV cần phải “làm mới bản thân” – đổi mới PPDH, hình thức tổ chức dạy học ở tất cả các cấp học; ứng dụng các phương pháp giáo dục hiện đại vào giảng dạy để bồi dưỡng cho HS các năng lực chung cốt lõi cần thiết như năng lực tư duy, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp và hợp tác,… và các năng lực lịch sử (tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học). Chính vì vậy, trong quá trình học tập, HS không chỉ đơn thuần là tiếp thu những kiến thức trong sách vở mà còn cần biết vận dụng những tri thức học được đó vào thực tiễn. Trên cơ sở mục tiêu của chương trình 2018, chương trình giáo dục cấp THCS, môn Lịch sử và Địa lí xác định rõ DHLS hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cho HS. Để học tốt phân môn Lịch sử, khi nguồn sử liệu HS tiếp cận là những gì đã xảy ra trong quá khứ thì việc rèn KNTD cho HS là điều vô cùng cần thiết.
Khi có được kĩ năng này, HS sẽ biết phân tích, so sánh, nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách khách quan và chính xác. Nhiệm vụ của phân môn Lịch sử ở cấp THCS là giúp HS hình thành và phát triển năng lực lịch sử, một thành phần của năng lực khoa học, đồng thời góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và các năng lực chung được xác định trong suốt chương trình: Về kiến thức: trang bị cho HS một hệ thống kiến thức khoa học cơ bản và toàn diện về lịch sử nhân loại, lịch sử khu vực và lịch sử dân tộc từ xưa đến nay. Phân môn Lịch sử cấp THCS giúp HS lĩnh hội kiến thức thông sử ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời giúp HS tìm hiểu sâu hơn các kiến thức lịch 21 sử cốt lõi thông qua các chủ đề tập về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam ở lớp 7,8,9. Phân môn Lịch sử giúp HS nhận thức được giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của sử học trong đời sống xã hội hiện đại, hiểu biết và có tình yêu đối với lịch sử, văn hoá dân tộc và nhân loại; góp phần giúp HS tiếp tục học lên và định hướng ngành nghề ở cấp THPT như: nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, quản lí, hoạt động du lịch, ngành văn hóa, thông tin và truyền thông.
Đặc trưng của tri thức lịch sử Trong QTDH, môn học nào cũng có những đặc trưng riêng biệt để góp phần thực hiện các mục tiêu mà giáo dục đề ra. Phân môn lịch sử với tư cách là một khoa học cũng có những nét đặc trưng riêng. 22 Thứ nhất, nhận thức lịch sử mang tính quá khứ nghĩa là kiến thức mà HS lĩnh hội luôn ở thì quá khứ. Vì vậy, trong QTDH, người dạy phải sử dụng phương pháp nào đó để HS tái hiện lại bức tranh quá khứ với những nét chung nhất, điển hình nhất.
đặc điểm này cũng gây khó khăn cho người dạy vì phải tuân theo tiến trình lịch sử mà thường ở cấp học dưới lại học những kiến thức quá xa với thời đại ngày nay, rất trừu tượng, phức tạp. Việc dẫn dắt HS trở về với quá khứ là điều mà chúng ta cần thực hiện, tránh hiện đại hóa lịch sử.