Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Dạy học Sinh học Trung học phổ thông theo định hướng giáo dục STEM", chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học (Mã số: 9.11), do nghiên cứu sinh Lê Thanh Hà thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Thị Thanh Hội và TS. Điêu Thị Mai Hoa.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018 đặt mục tiêu cốt lõi là hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu, 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù. Để hiện thực hóa mục tiêu này, quá trình tổ chức dạy học trong các nhà trường đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập, tăng cường khám phá, trải nghiệm và vận dụng tri thức giải quyết các vấn đề thực tiễn. Giáo dục STEM (Khoa học – Công nghệ – Kĩ thuật – Toán học) là mô hình giáo dục giúp nâng cao hứng thú đối với các môn khoa học, đồng thời rèn luyện các kỹ năng tiến trình và kỹ năng thế kỷ 21 cho người học.

Tại Việt Nam, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chỉ thị số 16/CT-TTg năm 2017, Quyết định số 522/QĐ-TTg năm 2018, CTGDPT 2018, Công văn số 3089/BGDĐT-GDTrH năm 2020) đã định hướng thúc đẩy giáo dục STEM trong trường phổ thông. Sinh học là môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, sở hữu nhiều nội dung gắn liền với các ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ đời sống. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu thực tế: các công trình về mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM và việc vận dụng vào môn Sinh học ở cấp THPT còn hạn chế; chưa có quy trình dạy học đồng bộ cũng như khung tiêu chí đánh giá đầy đủ sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (GQVĐ&ST) của học sinh thông qua môn học này.

Mục tiêu nghiên cứu và giả thuyết khoa học

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề xuất mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM làm cơ sở thiết kế các quy trình (xây dựng vấn đề STEM, giải quyết vấn đề STEM, xây dựng và thực hiện kế hoạch bài dạy) và vận dụng các quy trình đó trong dạy học Sinh học cấp THPT nhằm phát triển năng lực sinh học, đồng thời phát triển năng lực GQVĐ&ST cho học sinh.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất được mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM làm cơ sở thiết kế các quy trình (xây dựng vấn đề STEM, giải quyết vấn đề STEM, xây dựng và thực hiện kế hoạch bài dạy) và vận dụng các quy trình đó trong dạy học Sinh học cấp THPT thì sẽ phát triển được năng lực sinh học, đồng thời phát triển năng lực GQVĐ&ST.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM, các vấn đề STEM, quy trình xây dựng các vấn đề STEM, quy trình giải quyết các vấn đề STEM, quy trình xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM, năng lực GQVĐ&ST.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Sinh học theo định hướng giáo dục STEM.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào nội dung dạy học Sinh học cấp THPT và năng lực GQVĐ&ST.
    • Về thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy học thực nghiệm 3 bài học trong chương trình môn Sinh học lớp 11 tại 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục STEM, mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM, vấn đề STEM, năng lực GQVĐ&ST.
  2. Khảo sát thực trạng dạy học môn Sinh học theo định hướng giáo dục STEM, quan điểm và việc triển khai giáo dục STEM của giáo viên; thực trạng tham gia và thái độ của học sinh đối với các hoạt động dạy học theo định hướng giáo dục STEM.
  3. Xây dựng khung năng lực GQVĐ&ST trong dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM làm cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực này.
  4. Xây dựng mô hình dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM.
  5. Xây dựng các quy trình: xác định vấn đề STEM, giải quyết vấn đề STEM, xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực sinh học và năng lực GQVĐ&ST.
  6. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình tổ chức dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM đã đề xuất.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Hướng nghiên cứu Các công trình và tác giả tiêu biểu được tổng thuật
Nghiên cứu về giáo dục STEM và chính sách phát triển - Quốc tế: Tổng quan các giai đoạn 2007-2010, 2013-2015 trên 8 tạp chí và 2000-2018 trên 36 tạp chí; bộ sách Advances in STEM Education; chính sách tại Hoa Kỳ (tập trung nâng cao năng lực dạy học STEM cho GV, mô hình trường trung học STEM); Úc (kế hoạch đến năm 2030, mở rộng STEAM, STEMM, STEM-HASS); Anh, Đức (chiến lược gắn với Công nghiệp 4.0); khối GCC; Hàn Quốc (cải cách STEAM kết hợp nghệ thuật); Trung Quốc; Malaysia.
- Việt Nam: Ngày hội STEM quốc gia (2015); dự án thí điểm của Hội đồng Anh (2016-2017) tại 14 trường THCS và THPT; dự án STEM on the Move (2018-2019); các công trình nghiên cứu về thực hiện giáo dục STEM gắn với đổi mới giáo dục.
Nghiên cứu về dạy học theo định hướng giáo dục STEM - Quốc tế: Bybee (2010, 2013) về thách thức và khung bài học STEM; Bộ tiêu chuẩn Khoa học thế hệ tiếp theo của Hoa Kỳ (NGSS) với 8 thực hành khoa học và kỹ thuật (STEM practices) theo 2 hướng: tìm tòi khoa học (inquiry-based) và thiết kế kĩ thuật (engineering design-based); Zhou (2022) về 3 nguyên tắc tích hợp STEM trong dạy Sinh học (tích hợp, thực hành, xã hội); các mô hình tích hợp của Hobb & Thibaut, Kelley & Knowles (2016), Roehrig và cộng sự (2021).
- Việt Nam: Luận án của Lê Xuân Quang (2017) về môn Công nghệ; Nguyễn Thị Thùy Trang (2021) về đào tạo sinh viên sư phạm Hóa học; Lê Hải Mỹ Ngân (2022) về chủ đề STEM robotics ở THCS; các bài viết thiết kế chủ đề STEM Sinh học lớp 10 và 11.
Nghiên cứu về năng lực GQVĐ&ST trong dạy học - Quốc tế: Polya (1957), Bransford & Stein (1984), Mayer (1992), Oser & Baeriswyl (2001), Wu & Adams (2006), Windschitl và cộng sự (2008), PISA/OECD (2013), Osborne (2013), Merrill và cộng sự (2017), Priemer và cộng sự (2019), Orhan & Pektaş (2022) về cấu trúc giải quyết vấn đề và sự kết hợp yếu tố sáng tạo.
- Việt Nam: Phan Thị Thanh Hội và cộng sự (2018) về môn Sinh học; Trần Thị Huế & Nguyễn Đức Dũng (2018), Lê Thị Đặng Chi & Trần Trung Ninh (2018), Nguyễn Ngọc Duy (2018), Nông Thủy Kiều và cộng sự (2019), Chu Văn Tiềm & Đào Thị Việt Anh (2021) trong môn Hóa học; Hoàng Thị Thanh (2018), Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2020) trong môn Toán và Vật lí.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc tổng quan các tài liệu trên, tác giả xác định các khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết bao gồm:

  • Thiếu một mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM mang tính hệ thống được cấu trúc hóa rõ ràng để áp dụng cụ thể cho môn Sinh học cấp THPT theo CTGDPT 2018.
  • Chưa có quy trình chuẩn hóa về việc xác định vấn đề STEM xuất phát từ nội dung môn Sinh học gắn với các bối cảnh thực tiễn thời đại, cũng như quy trình giải quyết vấn đề STEM trong môn học.
  • Chưa có quy trình thiết kế bài dạy và tổ chức dạy học trọn vẹn nhằm phát triển đồng thời năng lực đặc thù môn Sinh học và năng lực chung GQVĐ&ST.
  • Thiếu bộ công cụ đánh giá chi tiết với các tiêu chí, chỉ báo (rubrics) và thang đo chuẩn hóa để đo lường định lượng và theo dõi đường phát triển năng lực GQVĐ&ST của học sinh trong dạy học Sinh học THPT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

  1. Khái niệm Giáo dục STEM: Dựa trên định nghĩa của CTGDPT 2018, luận án xác định: "Giáo dục STEM là tiếp cận dạy học liên môn, trong đó học sinh kết nối các kiến thức khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể."
  2. Khái niệm Vấn đề STEM: Luận án định nghĩa: "Vấn đề STEM là các vấn đề mở, gắn với bối cảnh cụ thể trong cuộc sống hoặc được mô phỏng lại vấn đề thực, yêu cầu học sinh áp dụng những kiến thức, kĩ năng thuộc lĩnh vực S-T-E-M khác nhau để giải quyết, nhằm đạt được mục tiêu dạy học cụ thể về phát triển năng lực môn học, đồng thời phát triển các phẩm chất, năng lực chung, đặc biệt là năng lực GQVĐ&ST."
  3. Phân loại giáo dục STEM vi mô trong nhà trường: Luận án tổng hợp việc phân loại theo 4 tiêu chí:
    • Theo lĩnh vực tham gia: STEM đầy đủ (huy động cả 4 lĩnh vực) và STEM khuyết (không cần đủ 4 lĩnh vực).
    • Theo mục đích dạy học: STEM kiến tạo (chiếm lĩnh tri thức mới qua giải quyết vấn đề) và STEM vận dụng (áp dụng kiến thức đã học).
    • Theo mức độ bám sát chương trình: STEM cơ bản (bám sát CTGDPT, trọng tâm là thực hành, thí nghiệm) và STEM mở rộng (vượt khung CTGDPT).
    • Theo hình thức tổ chức: Bài học STEM trong môn học, hoạt động trải nghiệm STEM, nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
  4. Các mức độ tích hợp STEM: Vận dụng khung lý thuyết của Vasquez và cộng sự (2013) gồm 4 cấp độ: tích hợp nội môn, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.
  5. Mô hình học tập khám phá: Kế thừa mô hình 5E của Bybee, mô hình 6E của Yata và cộng sự (2016), và mô hình giảng dạy khoa học CISD (Connect – Investigate – Synthesize – Demonstrate) trong giáo trình California Miller và Levine Biology (2019).
  6. Mô hình tích hợp STEM: Phân tích các mô hình của Hobb & Thibaut, khung khái niệm tích hợp STEM của Kelley & Knowles (2016) gồm 4 ròng rọc (S-T-E-M) kết nối qua sợi dây cộng đồng để nâng tải tình huống học tập, và mô hình 7 yếu tố của Roehrig và cộng sự (2021).
  7. Khái niệm Năng lực và Năng lực GQVĐ&ST: Tổng hợp định nghĩa theo 3 nhóm quan điểm (thuộc tính tâm lý cá nhân của Covaliov, Nguyễn Trọng Khanh; khả năng huy động kiến thức/kỹ năng/thái độ của UNESCO-IBE, John Erpenbeck, Weitnert, Phạm Minh Hạc; tập hợp trật tự các kỹ năng tác động lên tình huống của Rogiers) và định nghĩa tích hợp của CTGDPT 2018.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, hệ thống hóa: Khảo cứu tài liệu, xây dựng khung lý thuyết, xác định mô hình và các quy trình dạy học.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn:
    • Khảo sát giáo viên: Sử dụng bảng hỏi đối với 285 giáo viên THPT đang dạy các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Công nghệ; phỏng vấn sâu 11 giáo viên môn Sinh học.
    • Khảo sát học sinh: Sử dụng bảng hỏi điều tra 382 học sinh tại 3 trường THPT ở Hà Nội (THPT Olympia, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Minh Khai).
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia: Lấy ý kiến trực tiếp, phiếu nhận xét và tổ chức các buổi hội thảo seminar với các giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia giáo dục và giáo viên phổ thông có kinh nghiệm về mô hình dạy học, quy trình bài dạy và khung năng lực.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo 2 giai đoạn:
    • Thực nghiệm khảo sát (lần 1): Tiến hành tại trường THPT Olympia trên 33 học sinh lớp 10 năm học 2020 - 2021 nhằm đánh giá tính khả thi của quy trình dạy học.
    • Thực nghiệm chính thức (lần 2): Tiến hành tại 3 trường THPT (THPT Olympia, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Minh Khai) trong năm học 2021 - 2022 với 3 bài học thực nghiệm môn Sinh học lớp 11 để đo lường sự phát triển năng lực GQVĐ&ST.
  • Phương pháp thống kê toán học: Dùng phần mềm SPSS phiên bản 26.0 để xử lý dữ liệu: thống kê mô tả, vẽ đồ thị Boxplot, kiểm định độ tin cậy thang đo, kiểm định sự tương đồng phương sai, kiểm định Robust về sự bằng nhau của giá trị trung bình, và thực hiện phép kiểm định so sánh cặp Paired Samples T-Test.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 tập trung thiết lập nền tảng lý thuyết và đánh giá hiện trạng thực tiễn:

  1. Tổng quan nghiên cứu: Phân tích bức tranh toàn cảnh về giáo dục STEM quốc tế và Việt Nam; chỉ rõ xu hướng chuyển đổi từ dạy học đơn môn sang dạy học tích hợp giải quyết vấn đề thế giới thực.
  2. Xây dựng mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM: Đề xuất mô hình tích hợp gồm 3 thành phần liên kết chặt chẽ:
    • Nội dung dạy học: Kết nối nội dung các môn học STEM (Sinh học, Hóa học, Vật lí, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Tin học, Toán) gắn với 6 nhóm bối cảnh giáo dục STEM theo Bybee (sức khỏe, hiệu quả năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường, giảm thiểu rủi ro, ranh giới STEM) để tạo ra các vấn đề STEM mở.
    • Kế hoạch và tổ chức dạy học: Dựa trên quy trình giải quyết vấn đề STEM 4 bước: (i) Khám phá vấn đề STEM; (ii) Thiết kế giải pháp (theo tiến trình khoa học hoặc quy trình thiết kế kĩ thuật); (iii) Thu thập và xử lí dữ liệu; (iv) Báo cáo, đánh giá, kết luận.
    • Đầu ra năng lực: Hình thành và phát triển năng lực đặc thù môn Sinh học và các năng lực chung, trọng tâm là năng lực GQVĐ&ST.
  3. Kết quả khảo sát thực trạng:
    • Về phía giáo viên (N = 285, phỏng vấn 11 GV): Đa số giáo viên nhận thức được sự cần thiết của giáo dục STEM nhưng mức độ hiểu biết sâu và tần suất triển khai bài học STEM còn hạn chế. Trở ngại lớn nhất là thiếu kiến thức kỹ thuật/công nghệ, hạn chế thời gian của tiết học, sĩ số lớp học đông và thiếu cơ sở vật chất chuyên dụng (như phòng Maker Space, máy in 3D, máy cắt CNC).
    • Về phía học sinh (N = 382): Học sinh thể hiện hứng thú cao với các hoạt động học tập mang tính thực hành, trải nghiệm chế tạo, nhưng tần suất tham gia các hoạt động học chủ động còn thấp do chủ yếu vẫn học theo phương pháp thuyết trình truyền thống.

Chương 2: Dạy học Sinh học THPT theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Chương 2 trình bày hệ thống các quy trình và giải pháp sư phạm:

  1. Phân tích chương trình môn Sinh học 2018: Làm rõ mục tiêu phát triển năng lực sinh học (nhận thức sinh học, tìm hiểu thế giới sống, vận dụng kiến thức kỹ năng) và phân tích cấu trúc mạch nội dung môn học cấp THPT để tìm điểm tích hợp STEM.
  2. Quy trình xác định vấn đề STEM trong dạy học Sinh học: Đề xuất nguyên tắc (tính mục tiêu, tính thực tiễn, tính tích hợp, tính vừa sức) và quy trình từng bước kết nối mạch nội dung Sinh học (như Sinh học tế bào, Vi sinh vật, Chuyển hóa vật chất và năng lượng...) với các bối cảnh đời sống để xây dựng bảng danh mục các vấn đề STEM.
  3. Quy trình xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học:
    • Đề xuất quy trình thiết kế bài học STEM theo các bước sư phạm chuẩn hóa.
    • Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học tương ứng với chu trình 4 bước giải quyết vấn đề STEM, làm rõ vai trò chủ động của học sinh trong từng hoạt động: nghiên cứu kiến thức nền, đề xuất bản vẽ/phương án, thử nghiệm chế tạo/thu thập số liệu, báo cáo sản phẩm.
  4. Bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ&ST:
    • Xây dựng khung năng lực GQVĐ&ST trong dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM gồm 4 kỹ năng thành phần:
      1. Kỹ năng xác định vấn đề STEM;
      2. Kỹ năng đề xuất giải pháp;
      3. Kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá giải pháp;
      4. Kỹ năng trình bày báo cáo.
    • Xác định các tiêu chí, chỉ báo, biến quan sát, thiết lập bảng tiêu chí đánh giá định lượng (Rubrics) theo các mức độ phát triển và xây dựng đường phát triển năng lực làm công cụ đo lường trong thực nghiệm.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất thông qua dữ liệu định lượng:

  1. Tổ chức thực nghiệm:
    • Thực nghiệm khảo sát: Triển khai tại THPT Olympia (33 học sinh lớp 10) để hiệu chỉnh các bước trong quy trình tổ chức dạy học và hoàn thiện kế hoạch bài dạy.
    • Thực nghiệm chính thức: Triển khai trên học sinh lớp 11 tại 3 trường THPT (THPT Olympia, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Minh Khai) qua việc tổ chức dạy 3 bài học thực nghiệm môn Sinh học 11.
  2. Phương pháp đo nghiệm: Sử dụng các bài kiểm tra đánh giá năng lực sinh học và hệ thống phiếu quan sát, rubric đánh giá 4 kỹ năng của năng lực GQVĐ&ST tại các thời điểm trước, trong và sau các lần tác động sư phạm.
  3. Phân tích kết quả thống kê (xử lý trên SPSS 26.0):
    • Về năng lực Sinh học: Điểm số trung bình của học sinh qua các lần kiểm tra có sự gia tăng rõ rệt; biểu đồ Boxplot phản ánh sự dịch chuyển tích cực của trung vị và phân bố điểm số.
    • Về 4 kỹ năng của năng lực GQVĐ&ST: Phép kiểm định so sánh cặp (Paired Samples T-Test) cho thấy sự khác biệt về điểm trung bình đạt được ở từng kỹ năng (xác định vấn đề; đề xuất giải pháp; lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá giải pháp; trình bày báo cáo) cũng như điểm bình quân chung của cả 4 kỹ năng qua các lần tác động đều có ý nghĩa thống kê.
    • Kiểm định Robust và tương đồng phương sai: Khẳng định tính ổn định và sự đồng đều về mức độ phát triển năng lực giữa các trường thực nghiệm có điều kiện khác nhau.
    • Theo dõi đường phát triển năng lực: Phân tích chi tiết biểu đồ tiến trình phát triển năng lực của 8 học sinh được theo dõi đại diện, minh chứng học sinh từng bước nâng cao từ mức độ nhận biết cơ bản sang mức độ vận dụng sáng tạo và tự lực thực hiện các nhiệm vụ phức tạp.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Theo công bố của luận án, công trình đạt được 4 đóng góp mới cốt lõi:

  1. Về cơ sở lí luận: Đã lựa chọn, tổng hợp và hệ thống hóa được các vấn đề lý luận nền tảng cho đề tài, bao gồm: bản chất giáo dục STEM, các mô hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM, khái niệm vấn đề STEM, và cấu trúc năng lực GQVĐ&ST trong bối cảnh dạy học tích hợp.
  2. Về khung năng lực và tiêu chí đánh giá: Xây dựng được khung năng lực GQVĐ&ST đặc thù trong dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM, xác định các thành phần kỹ năng, chỉ báo hành vi, bảng tiêu chí đánh giá (Rubrics) chi tiết và mô tả đường phát triển năng lực.
  3. Về mô hình dạy học: Đề xuất được mô hình dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM kết nối 3 yếu tố: nội dung dạy học gắn với bối cảnh STEM – quy trình kế hoạch và tổ chức dạy học – mục tiêu phát triển năng lực đặc thù và năng lực chung.
  4. Về hệ thống quy trình thực thi: Xây dựng đồng bộ các quy trình mang tính ứng dụng sư phạm trực tiếp, gồm:
    • Quy trình xác định các vấn đề STEM trong môn Sinh học THPT;
    • Quy trình giải quyết các vấn đề STEM;
    • Quy trình xây dựng kế hoạch bài dạy bài học STEM môn Sinh học;
    • Quy trình tổ chức dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực sinh học và năng lực GQVĐ&ST.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực nghiệm, tác giả đưa ra các khuyến nghị:

  • Đối với cấp quản lý giáo dục: Cần đẩy mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp dạy học STEM, đặc biệt là kỹ năng tích hợp quy trình thiết kế kỹ thuật vào môn học khoa học; linh hoạt trong quản lý thời lượng chương trình và phân phối thời khóa biểu để tạo thuận lợi cho việc tổ chức các bài học STEM.
  • Đối với các trường THPT: Từng bước đầu tư cơ sở vật chất, trang bị thiết bị thực hành và các không gian chế tạo (Maker Space); khuyến khích sinh hoạt tổ chuyên môn liên môn để giáo viên các bộ môn S-T-E-M phối hợp xây dựng chủ đề dạy học.
  • Đối với giáo viên Sinh học: Cần chủ động nghiên cứu chương trình môn học, phát hiện các vấn đề thực tiễn gắn với các bối cảnh đời sống; vận dụng linh hoạt quy trình thiết kế bài dạy và sử dụng đa dạng các công cụ đánh giá quá trình để hỗ trợ học sinh phát triển năng lực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi thực nghiệm sư phạm của luận án mới chỉ tiến hành trên 3 bài học thuộc nội dung chương trình môn Sinh học lớp 11 và triển khai tại 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mức độ tiếp cận giáo dục STEM chủ yếu tập trung ở hình thức bài học STEM cơ bản gắn với nội dung nội môn hoặc tích hợp liên môn hẹp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng việc thiết kế và thực nghiệm các bài học STEM cho toàn bộ các mạch nội dung khác trong chương trình Sinh học THPT (lớp 10, 11 và 12).
    • Nghiên cứu áp dụng mô hình ở các hình thức tổ chức giáo dục STEM cấp độ cao hơn như hoạt động trải nghiệm STEM, câu lạc bộ STEM hoặc hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm tại nhiều địa phương, vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trên cả nước để đánh giá sâu hơn tính tương thích của mô hình.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu giáo dục: Cung cấp tài liệu tổng quan hệ thống về giáo dục STEM quốc tế và trong nước; nguồn tài liệu tham khảo về khung khái niệm tích hợp STEM, mô hình dạy học tích hợp và phương pháp luận thiết kế công cụ đo lường năng lực học sinh qua phần mềm SPSS.
  • Đối với giáo viên Sinh học cấp THPT: Cung cấp tài liệu hướng dẫn cụ thể về quy trình xác định vấn đề STEM, quy trình thiết kế kế hoạch bài dạy, các giáo án minh họa cùng bộ tiêu chí đánh giá rubric có thể áp dụng trực tiếp vào giảng dạy thực tế theo CTGDPT 2018.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên, định hướng phát triển chương trình nhà trường theo hướng giáo dục STEM, cũng như đánh giá chất lượng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình dạy học Sinh học theo định hướng giáo dục STEM do tác giả đề xuất gồm những thành tố cốt lõi nào?
Mô hình gồm 3 thành phần liên kết chặt chẽ: (1) Nội dung dạy học (kết nối nội dung các môn học STEM gắn với 6 nhóm bối cảnh giáo dục STEM để xác định các vấn đề STEM mở); (2) Kế hoạch và tổ chức dạy học (dựa trên quy trình giải quyết vấn đề STEM 4 bước: khám phá vấn đề, thiết kế giải pháp, thu thập và xử lý dữ liệu, báo cáo - đánh giá); (3) Chuẩn đầu ra năng lực (phát triển năng lực đặc thù môn Sinh học và năng lực chung, trọng tâm là năng lực GQVĐ&ST).

2. Khung năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong luận án được cấu trúc thành những kỹ năng thành phần nào?
Khung năng lực GQVĐ&ST được tác giả xác định gồm 4 kỹ năng: (1) Kỹ năng xác định vấn đề STEM; (2) Kỹ năng đề xuất giải pháp; (3) Kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá giải pháp; (4) Kỹ năng trình bày báo cáo. Mỗi kỹ năng đều đi kèm với các chỉ báo hành vi, bảng tiêu chí đánh giá (rubrics) và các mức độ phát triển.

3. Quá trình thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành với quy mô và đối tượng như thế nào?
Thực nghiệm gồm 2 giai đoạn tại Hà Nội: (1) Thực nghiệm khảo sát thực hiện trong năm học 2020 - 2021 tại trường THPT Olympia trên 33 học sinh lớp 10 nhằm kiểm tra tính khả thi của quy trình; (2) Thực nghiệm chính thức thực hiện trong năm học 2021 - 2022 tại 3 trường THPT (THPT Olympia, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Minh Khai) với học sinh lớp 11 qua 3 bài học thực nghiệm môn Sinh học. Ngoài ra, tác giả theo dõi sát sao đường phát triển năng lực của 8 học sinh đại diện.

4. Tác giả sử dụng những kỹ thuật thống kê nào trên phần mềm SPSS 26.0 để xử lý dữ liệu thực nghiệm?
Tác giả đã sử dụng các kỹ thuật: thống kê mô tả, biểu đồ hộp (Boxplot), kiểm định sự tương đồng phương sai, kiểm định Robust về sự bằng nhau của giá trị trung bình, và phép kiểm định so sánh cặp theo lần tác động (Paired Samples T-Test) nhằm xác định ý nghĩa thống kê của sự tiến bộ về năng lực sinh học và các kỹ năng của năng lực GQVĐ&ST.


Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thanh Hà đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của thực tiễn đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam thông qua việc đề xuất hệ thống lý luận và các quy trình sư phạm về dạy học môn Sinh học theo định hướng giáo dục STEM. Công trình đã thiết lập được mô hình dạy học tích hợp, khung đánh giá năng lực GQVĐ&ST gồm 4 kỹ năng chuẩn hóa, cùng quy trình 4 bước giải quyết vấn đề STEM trong môn Sinh học. Kết quả xử lý số liệu thực nghiệm trên 3 trường THPT bằng phần mềm SPSS 26.0 đã chứng minh tính khả thi của các quy trình đề xuất và khẳng định sự tiến bộ có ý nghĩa thống kê của học sinh về cả năng lực sinh học và năng lực GQVĐ&ST. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho giáo viên, cán bộ quản lý và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phương pháp dạy học Sinh học.