CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC XÂY DỰNG TUYẾN ĐƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG TUYẾN ĐƯỜNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Giao thông là ngành giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vì đó là “mạch máu” của đất nước. Với vai trò quan trọng như vậy nhưng mạng lưới giao thông ở nước ta hiện nay nhìn chung còn hạn chế. Phần lớn chúng ta sử dụng những tuyến đường cũ, mà những tuyến đường này không thể đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa lớn như hiện nay.
Vì vậy trong thời gian vừa qua cũng như trong tương lai, giao thông vận tải đã và sẽ được Đảng và Nhà nước quan tâm để phát triển mạng lươí giao thông vận tải rộng khắp, nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cũng như việc phát triển vùng kinh tế mới phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân. Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa, tạo điều kiện cho sự giao lưu kinh tế giữa nước ta cùng các nước trên thế giới, đã làm cho mạng lưới giao thông hiện có của nước ta lâm vào tình trạng quá tải, không đáp ứng kịp nhu cầu lưu thông ngày càng cao của xã hội. Nên việc cải tạo, nâng cấp, mở rộng các tuyến đường sẳn có và xây dựng mới các tuyến đường ôtô ngày càng trở nên cần thiết. Đó là tình hình giao thông ở các đô thị lớn, còn ở nông thôn và các vùng kinh tế mới, mạng lưới giao thông còn mỏng, chưa phát triển điều khắp, chính điều này đã làm cho sự phát triển kinh tế văn hoá giữa các vùng là khác nhau rõ rệt.
Hiện nay khi đất nước ta đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới thì việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều. Chính điều này đã làm cho tình hình giao thông vốn đã ách tắc ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Dự án thiết kế mới tuyến đường A – B thuộc tỉnh ĐẮK LẮK, đây là tuyến đường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương nói riêng và cả nước nói chung, dự án nhằm khai thác khả năng của khu vực. Tuyến được xây dựng trên cơ sở những đòi hỏi và yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng dân cư mà tuyến đi qua.
Sau khi tuyến được xây dựng 3 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯĐƯỜNG BỘ GVHD: THS. HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT thanhle sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc dân, cũng cố và đảm bảo an ninh quốc phòng. Tuyến được xây dựng ngoài công việc chính yếu là vận chuyển hàng hoá phục vụ đi lại của người dân mà còn nâng cao trình độ dân trí của người dân khu vực lân cận tuyến. Sự phối hợp này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao trong quá trình đầu tư xây dựng tuyến đường.
Tóm lại, cơ sở hạ tầng của nước ta chưa thể đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Do vậy, ngay bây giờ, việc phát triển mạng lưới giao thông vận tải trong cả nước là điều hết sức quan trọng và vô cùng cấp bách. TÌNH HÌNH CHUNG CỦA TUYẾN ĐƯỜNG: 1. Tình hình văn hoá, chính trị : Về chính trị thì trật tự ổn định, ở đây có nhiều dân sinh sống, mức sống và văn hoá vùng này tương đối thấp, đời sống văn hóa, sinh hoạt giải trí chưa cao.
Việc học của người dân đi lại thật khó khăn vào những mùa mưa, việc vận chuyển nông sản,hàng hóa còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dùng gia súc để kéo. Vì vậy khi tuyến đường được xây dựng sẽ tạo điều kiện phát triển, hơn nữa bệnh viện, trường học, khu vui chơi giải trí…, trình độ dân trí càng được cải thiện hơn.Tình hình kinh tế dân sinh : Tuyến đi qua có dân số đang gia tăng là địa hình đồng bằng có nhiều chỗ là đồi, nghề nghiệp chính của họ là làm rẫy và chăn nuôi, các cây trồng chính ở đây chủ yếu là cây cao su, đậu phộng, cà phê…, việc hoàn thành tuyến đường này sẽ giúp cho đời sống và kinh tế vùng này được cải thiện đáng kể.Đặc điểm về địa hình, địa mạo : Độ chênh cao giữa hai đường đồng mức kề nhau là h = 5m. Địa hình vùng này tương đối thuận lợi. Dòng chảy tập trung không lớn, lưu vực xung quanh ít ao hồ nên việc thiết kế các công trình thoát nước đều tính lưu lượng vào mùa mưa là chủ yếu.
Phần lớn tuyến đi men theo sườn dốc và ven sông, có những chỗ tuyến phải ôm sát 4 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯĐƯỜNG BỘ GVHD: THS. HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT thanhle sơng. Nói chung khi thiết kế tuyến thì độ dốc không lớn lắm vì địa hình là đồng bằng và đồi. Địa mạo tuyến men theo triền đồi, xung quanh chủ yếu rừng cây nhỏ và đồi cỏ, cây xanh dân cư sống thưa thớt.
không qua vườn cây ăn trái nhưng có thể qua vùng nương rẩy (ít). Như vậy khi xây dựng tuyến giảm được chi phí đền bù giải toả cho việc triển khai dự án sau này, qua khảo sát thực tế ta có thể lấy đất từ nền đào gần đó hoặc đất từ thùng đấu ngay bên cạnh đường để xây dựng nền đất đấp rất tốt.Đặc điểm về địa chất thuỷ văn : Ở khu vực này chỉ có nước mặt, hầu như không thấy nước ngầm. Dọc theo khu vực mà tuyến đi qua có một vài nhánh sông, kênh, suối có nước theo mùa. Vào mùa khô thì tương đối ít nước, nhưng vào mùa mưa thì nước ở các nhánh sông tương đối lớn có thể gây ra lũ nhỏ.
Tại các khu vực suối nhỏ(suối cạn) ta có thể đặt cống hoặc làm cầu nhỏ, với những suối lớn hoặc sông để vượt qua cần phải làm cầu. Địa chất ở hai bên các nhánh sông, kênh này ít bị xói lở, tương đối thuận lợi cho việc thi công công trình thoát nước và cho toàn bộ công trình. Ở khu vực này không có khe xói.Vật liệu xây dựng : Trong công tác xây dựng, các vật liệu xây dựng đường như đá, cát, đất … chiếm một số lượng và khối lượng tương đối lớn. Để làm giảm giá thành khai thác và vận chuyển vật liệu cần phải cố gắng tận dụng vật liệu có tại địa phương đến mức cao nhất.
Khi xây dựng nền đường có thể lấy đá tại các mỏ đá đã thăm dò có mặt tại địa phương (với điều kiện các mỏ đá này đã được thí nghiệm để xác định phù hợp với khả năng xây dựng công trình). Nói chung, vật liệu xây dựng cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến thi công. Ngoài ra còn có những vật liệu phục vụ cho việc làm láng trại như tre, nứa, gỗ …vv. Nói chung là sẵn có nên thuận lợi cho việc xây dựng nhà cửa, láng trại 5 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯĐƯỜNG BỘ GVHD: THS.
HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT thanhle cho công nhân. Đất để xây dựng nền đường có thể lấy ở nền đường đào hoặc lấy ở mỏ đất gần vị trí tuyến (với điều kiện đất phải được kiểm tra xem có phù hợp với công trình), cát có thể khai thác ở những bãi dọc theo suối.Đăc điểm địa chất : Địa chất ở vùng tuyến đi qua rất ổn định. Dọc theo các con suối có nhiều bãi cát, sỏi có thể dùng làm mặt đường và các công trình trên đường, ở vùng này hầu như không có hiện tượng đá lăn, không có những hang động cát-tơ và không có hiện tượng sụt lở. Địa chất vùng này rất tốt thuận lợi cho việc xây dựng tuyến.Tình hình khí hậu trong khu vực : Khu vực tuyến A - B đi qua là vùng núi, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nhiều mưa ít.
Khu vực tuyến chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc phân biệt thành 2 mùa rõ rệt: - Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. - Mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 3. Vùng này thuộc khu vực mưa rào, chịu ảnh hưởng của gió mùa khô. Vì vậy phải chú ý chọn thời điểm xây dựng vào mùa nắng tốt.
CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA TUYẾN I. Số liệu ban đầu: - Bình đồ tỷ lệ 1/10000 - địa hình đồi núi - Chênh cao giữa 2 đường đồng mức dentaH=5m 𝑥𝑒 - Lưu lượng xe 𝑁15 = 1850 ( ) 𝑛𝑔à𝑦 đê𝑚 1. Thành phần xe chạy: 6 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯĐƯỜNG BỘ GVHD: THS. HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT thanhle THÀNH STT LOẠI XE PHẦN XE(%) 1 Xe máy 0 2 Xe con 30 nhẹ 10 3 xe 2 trục trung 5 nặng 5 nhẹ 10 4 Xe 3 trục trung 10 nặng 10 5 xe buýt nhỏ 10 6 xe kéo móc 7 Xe buýt lớn 10 Tổng 100 Lưu lượng xe thiết kế : lưu lượng xe thiết kế là số xe con quy đổi từ các loại xe khác, thông qua một mặt cắt trong một đơn vị thời gian, tính cho năm tính toán tương lai.
Năm tương lai là năm thứ 20 sau khi đưa đường vào sử dụng đối với đường cấp I và II; năm thứ 15 đối với đường cấp III và IV; năm thứ 10 đối với đường cấp V, cấp VI và các đường thiết kế nâng cấp, cải tạo. Bảng tính lưu lượng xe quy đổi hệ : SỐ XE THÀNH HS XE CON QUY HIỆN STT LOẠI XE PHẦN QUY ĐỔI HIỆN TẠI XE(%) ĐỔI TẠI (CHIẾC) 1 Xe máy 0 0 0.3 0 2 Xe con 30 555 1 555 nhẹ 10 185 2.5 463 3 xe 2 trục trung 5 93 2.5 231 nặng 5 93 3 278 7 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯĐƯỜNG BỘ GVHD: THS. HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT thanhle nhẹ 10 185 2.5 463 4 Xe 3 trục trung 10 185 2.5 463 5 xe buýt nhỏ 10 185 3 555 6 xe kéo móc 0 5 0 7 Xe buýt lớn 10 185 3 555 Tổng 100 1850 4024 Ntt=No*(1+p)t Với p = 7,4% , t = 15 năm , N15 = 4024 xcqđ/ngđêm Kiến nghị: Với tuyến đường làm mới và khả năng đáp ứng cho giao thông trong thời gian dài t = 15 năm, Với : N15 > 3000 (xcqđ/ngđ) và tốc độ tăng trưởng như trên cũng như vì tuyến đường sau này sẽ kết nối với tuyến đường quốc lộ nên lượng xe trong tương lai sẽ tăng lên đột biến. Dựa vào Bảng 3 TCVN 4054-05, ta kiến nghị chọn : Cấp thiết kế của đường chọn là cấp III địa hình đồi Tốc độ thiết kế là tốc độ được dùng để tính toán các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu của đường trong trường hợp khó khăn.
Tốc độ này khác với tốc độ cho phép lưu hành trên đường của cơ quan quản lý đường.