CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN CÁ TRƯỜNG GIANG NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1. Tổng quan về nhà máy chế biến cá Trường Giang Nhà máy chế biến cá Trường Giang thuộc công ty Cổ phần thủy sản Trường Giang (TG Fishery Holdings Corp), được thành lập vào ngày 17/3/2008, với mục đích tiếp nhận, chế biến nguồn nguyên liệu sạch từ hai vùng nuôi lớn của công ty ở giữa sông Tiền. Tạo thành vòng khép kín, liên kết từ khâu nuôi trồng đến sản xuất, đảm bảo chất lượng của sản phẩm đầu ra, khẳng định được vị thế, thương hiệu trong nước lẫn xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực Đông Nam Á, cả thị trường đòi hỏi chất lượng như châu Âu.[10] Nhà máy của công ty rộng khoảng 4.75 ha, đặt tại Khu công nghiệp Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, giải quyết nhu cầu việc làm cho hơn 1 500 lao động trong khu vực. Hiện nay, dây chuyền sản xuất của Công ty đã đạt công suất chế biến 35 000 tấn/ năm.[10] Trước những thành tựu to lớn về kinh tế, công ty cũng thải ra một lượng lớn chất thải gây ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là nước thải.
Tuy nhiên, ý thức được những tác hại đó trong quá trình vận hành của nhà máy, khi tiến hành xây dựng nhà máy, công ty đã nghiên cứu đầu tư, xây dựng nhà máy với công nghệ, thiết bị tiên tiến và hiện đại, thân thiện với môi trường. Chủ dự án CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN TRƯỜNG GIANG Người đại diện pháp lý: Họ và tên: Lê Ba Tỷ Chức danh: Giám đốc Vị trí dự án Dự án được xây dựng trong khuôn viên nhà máy chế biến cá Trường Giang, Khu công nghiệp Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Điều kiện khí hậu 4 do an Đồng Tháp do ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa nên hình thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 11; Mùa khô thường bắt đầu từ đầu tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau.
Điều kiện thủy văn Vị trí của dự án nằm trong Khu công nghiệp Sa Đéc: Phía Đông tiếp giáp sông Tiền và cảng Sa Đéc. Khi đi qua Khu công nghiệp Sa Đéc, Sông Tiền tiếp tục chảy qua địa phận Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang rồi chia làm 4 sông nhỏ (sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiêng) đổ ra biển. Dọc sông Tiền, hình thành nhiều khu đô thị: khu đô thị mới phường 10, khu dân cư dọc sông Tiền… Ngoài ra, sông Tiền còn góp phần phát triển nền nông nghiệp của nước ta: cây ăn quả, hoa kiểng (đặc biệt là hoạt động trồng hoa tết)… 1. Tổng quan về ngành chế biến thủy sản 1.
Vài nét về ngành chế biến thủy sản Nước ta với đặc thù đường bờ biển dài cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt, là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản, trở thành ngành sản xuất, xuất khẩu hàng hoá lớn, tạo nên thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân, bên cạnh đó còn góp phần bảo vệ an ninh biển đảo. Theo Tạp chí Thủy sản Việt Nam năm 2015, ngành chế biến thủy sản không ngừng phát triển, sản phẩm chế biến tiêu thụ trong nội địa cũng không ngừng tăng, từ 277 ngàn tấn vào năm 2001 đến 680 ngàn tấn vào năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 10. Đối với sản phẩm chế biến xuất khẩu trong giai đoạn 2001 – 2015 cũng không ngừng tăng về khối lượng và giá trị, tốc độ tăng trưởng bình quân 15.6%/năm, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu sang 164 quốc gia và vùng lãnh thổ với 3 thị trường chính là EU, Mỹ, Nhật Bản… [1] Theo Tổng cục Thủy sản Việt Nam, số nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến tăng rất nhanh trong giai đoạn từ năm 2001 – 2012, cụ thể, số cơ sở chế biến vào năm 2001 là 211 cơ sở, với công suất thiết bị cấp đông là 3 150 tấn/ngày; đến năm 5 do an 2007 tăng lên 320 cơ sở, công suất thiết bị cấp đông là 4 262 tấn/ngày; vào năm 2012 số cơ sở chế biến thủy sản là 420 cơ sở và công suất thiết bị cấp đông là 7 870 tấn/ngày. Các nhà máy không ngừng tạo ra nhiều mặt hàng mới, có giá trị, và ngày càng nâng cao chất lượng để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu nghiêm ngặt trên thế giới.
[1] Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một trong năm nước xuất khẩu thủy sản nhiều nhất thế giới. Chính vì thế, phải định hướng phát triển, đưa ra các giải pháp, đặc biệt về vấn đề bảo vệ môi trường. Các dự án mới đều phải có hệ thống xử lý nước thải; các công trình xử lý cũ cần phải tu sửa, nâng cấp để đạt hiệu quả hơn. Các quá trình cơ bản trong ngành chế biến thủy sản Trong quá trình chế biến thủy sản, quá trình nước thải sinh ra nhiều nhất ở khâu rửa và làm sạch nguyên liệu sau khi sơ chế.
Nước thải sinh ra trong quá trình chế biến thủy sản chủ yếu từ các công đoạn xử lý nguyên liệu, chế biến, hoàn tất sản phẩm, vệ sinh dụng cụ, thiết bị và nước thải sinh hoạt. Lưu lượng nước thải và nồng độ chất thải trong nước phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu thô, chất phụ gia được sử dụng, các công đoạn trong quá trình sản xuất như sơ chế nguyên liệu, giết mổ… 6 do an Hình 1. Quy trình chế biến cá [11] Đối với ngành công nghiệp chế biến cá, hầu như lượng nước đưa vào quá trình sản xuất cuối cùng đều trở thành nước thải: Giai đoạn rửa 1, giai đoạn cần sử dụng nhiều nước nhất, nước được dùng để làm sạch cá, sau quá trình xử lý sơ bộ (cắt mang, ruột…), vì vậy nước thải mang theo các tạp chất, màu (máu, dầu mỡ, nhớt…), chất thải rắn (vụn phế phẩm nội tạng), vi khuẩn, và các chất hữu cơ, nitơ, phốt pho… Giai đoạn rửa 2, sau quá trình sơ chế cá, nước được dùng để loại bỏ cặn bẩn dư còn bám trên bề mặt cá, nước thải chủ yếu mang theo các chất hữu cơ, nitơ, phốt pho… 7 do an Giai đoạn rửa 3, nước thải ở giai đoạn này mang ít tạp chất nhất, nước chủ yếu sử dụng để làm sạch bề mặt cá, đảm bảo không còn những vụn bẩn còn sót lại trên sản phẩm từ những giai đoạn trên. Đồng thời, ở giai đoạn tiếp nhận nguyên liệu và bảo quản cũng sinh ra nước thải do việc rã đông nguyên liệu (tan đá ướp), rửa thùng, bao bì đựng nguyên liệu.
Ngoài ra, sau quá trình sản xuất người ta còn sử dụng một lượng lớn nước để làm sạch các dụng cụ, máy móc, thiết bị liên quan đến các công đoạn sản xuất. Đặc trưng của nước thải chế biến cá và tác động đến môi trường Tùy vào từng công đoạn sản xuất mà nguồn thải có nồng độ khác nhau, nhưng khi xả thải vào khu xử lý thì trong nước thải chỉ mang đặc trưng của BOD, COD, N, P, SS và độ màu. Nên việc xử lý và loại bỏ các thành phần đó trước khi xả thải ra môi trường là điều bắt buộc. BOD (nhu cầu oxi dùng để phân hủy các hợp chất hữu cơ chỉ có khả năng phân hủy sinh học) dao động khá cao bởi hàm lượng chất hữu cơ cao, các chất dinh dưỡng, protein, lipid… chủ yếu là những chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, khi phân hủy sẽ làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, gây ảnh hưởng, chết các loài thủy sinh.
COD (nhu cầu oxi dùng để phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học và không có khả năng phân hủy sinh học) trong nước thải cao, vì vậy lượng oxy cần thiết có trong nước đòi hỏi phải cao để oxy hóa những chất hữu cơ không thể phân hủy gây ra. Do đó sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài thủy sinh trong nước. Nitơ, Phốt pho trong nước thải cao sinh ra trong quá trình phân hủy các cặn bã, nội tạng của cá, khi thải ra môi trường sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hóa, cây cỏ, rong tảo phát triển làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài cá, tôm và những loài động vật khác trong nước. Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) khá cao là do các vụn thủy sản (nội tạng, xương, vây…), các vụn này dễ lắng, ngoài ra còn chứa bùn cát sinh ra từ khâu rửa, sơ chế nguyên liệu và vệ sinh xưởng.
Những vụn này dễ thu gom và xử lý. Độ màu trong nước thải chủ yếu là do máu, phân của thủy sản trong quá trình chế biến, chứa lượng lớn vi sinh vật gây bệnh. Nếu không xử lý, những vi sinh vật này sẽ tồn tại trong môi trường và gây ra các bệnh truyền nhiễm. 8 do an CHƯƠNG 2: CÁC CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI 2.
Các công nghệ xử lý nước thải chế biến thủy sản 2. Các công nghệ xử lý Xử lý nước thải để đảm bảo nước thải đầu ra đáp ứng các yêu cầu khắt khe và không ngừng nâng cao của Nhà nước là vấn đề nan giải, cấp thiết. Chính vì vậy những công nghệ và phương pháp xử lý không ngừng được cải thiện, để mỗi phương pháp khi áp dụng đúng tính chất nước thải thì sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất, nếu không sẽ gây lãng phí, tốn kém và không cần thiết cho quá trình xử lý đó. Việc xử lý sẽ đi theo từng chu trình, quyết định bởi hàm lượng và tính chất ô nhiễm trong nước thải, bên cạnh đó còn dựa vào yêu cầu chất lượng nước thải đầu ra của doanh nghiệp, gồm những quá trình sau: Xử lý sơ bộ: nhằm loại bỏ các thành phần thô trong nước thải như rác, cát, các chất dầu mỡ cũng như các chất nổi trên mặt nước gây cản trở cho quá trình phía sau thì sẽ được xử lý bằng cơ học hay xử lý hóa học.
Xử lý bậc một: đây là phương pháp loại bỏ các cặn lơ lửng hay các chất hữu cơ có trong nước thải, qúa trình này được xử lý bằng phương pháp cơ học hoặc là hóa lý. Xử lý bậc hai: sau khi đã xử lý bằng các phương pháp hóa học thì tới quá trình này sẽ xử lý bằng sinh học, nhằm loại bỏ các chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh học (ở dạng hòa tan và lơ lửng) và các chất rắn lơ lửng bằng biện pháp sinh học. Sau quá trình xử lý bậc hai thì phương pháp xử lý hoá học và khử trùng cũng có thể được áp dụng trong giai đoạn này.