Luận án tiến sĩ thiết kế và sử dụng các tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua các hoạt động trải nghiệm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thiết kế tình huống học tập nhằm đánh giá năng lực tính toán của học sinh tiểu học qua hoạt động trải nghiệm.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

182
5
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Giả thuyết khoa học

1.7. Những đóng góp của luận án

1.8. Những luận điểm đưa ra bảo vệ

1.9. Cấu trúc của luận án

2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Hoạt động trải nghiệm của học sinh cuối cấp tiểu học

2.2. Quan niệm hoạt động trải nghiệm của học sinh cuối cấp tiểu học

2.3. Học qua trải nghiệm

2.4. Hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.5. Quan niệm hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.6. Hoạt động tính toán bên ngoài và bên trong của học sinh cuối cấp tiểu học

2.7. Tri thức thúc đẩy hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.8. Năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.9. Quan niệm năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.10. Các thành tố năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.11. Các biểu hiện năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.12. Tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.12.1. Quan niệm tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.12.2. Đặc trưng của tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.12.3. Cách sử dụng tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.12.4. Phiếu trợ giúp

2.13. Đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.13.1. Quan niệm đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.13.2. Phương pháp đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.13.3. Công cụ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.14. Thực trạng việc thiết kế và sử dụng tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua các hoạt động trải nghiệm

2.15. Thực trạng nhận thức của giáo viên về quan niệm năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.16. Thực trạng nhận thức của giáo viên về các biểu hiện năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.17. Thực trạng việc đổi mới đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

2.18. Thực trạng việc sử dụng phương pháp và công cụ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm trên tình huống học tập

2.19. Thực trạng việc thiết kế và sử dụng tình huống học tập hỗ trợ giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

2.20. Thực trạng năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học trong hoạt động tính toán

2.21. Kết luận chương 1

3. THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM TÌNH HUỐNG HỌC TẬP HỖ TRỢ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍNH TOÁN CỦA HỌC SINH CUỐI CẤP TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

3.1. Quy trình thiết kế tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

3.2. Đề xuất quy trình

3.3. Thiết kế một số tình huống học tập cụ thể hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

3.4. Quy trình thử nghiệm tình huống học tập nhằm khảo sát các hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

3.5. Căn cứ đề xuất quy trình

3.6. Đề xuất quy trình

3.7. Thử nghiệm một số tình huống học tập cụ thể nhằm khảo sát các hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm

3.8. Kết luận chương 2

4. SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP HỖ TRỢ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍNH TOÁN CỦA HỌC SINH CUỐI CẤP TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

4.1. Quy trình sử dụng tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

4.2. Sử dụng các tình huống học tập cụ thể hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học

4.3. Sử dụng tình huống học tập phân số trên mô hình

4.4. Sử dụng tình huống học tập đếm số tam giác

4.5. Sử dụng tình huống học tập tính diện tích tam giác

4.6. Sử dụng tình huống học tập chia bánh

4.7. Sử dụng tình huống học tập bán vải

4.8. Định hướng cải thiện năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học qua hoạt động trải nghiệm trên tình huống học tập

4.9. Định hướng cải thiện năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học trong hoạt động thiết kế tình huống học tập của giáo viên

4.10. Định hướng cải thiện năng lực tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học trong hoạt động dạy học

4.11. Kết luận chương 3

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thiết kế tình huống học tập

Thiết kế tình huống học tập là một phương pháp giáo dục quan trọng nhằm hỗ trợ đánh giá năng lực của học sinh, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lực tính toán. Tình huống học tập không chỉ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn mà còn tạo cơ hội cho giáo viên quan sát và đánh giá quá trình học tập của học sinh. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc tạo ra các tình huống học tập phong phú và đa dạng là cần thiết để phát triển năng lực học sinh. Việc thiết kế các tình huống học tập cần phải dựa trên các nguyên tắc như tính thực tiễn, tính tương tác và khả năng khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

1.1. Định nghĩa tình huống học tập

Tình huống học tập được hiểu là những bối cảnh cụ thể trong đó học sinh có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề. Các tình huống này có thể được thiết kế dựa trên các hoạt động trải nghiệm thực tế, giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Việc sử dụng tình huống học tập trong dạy học không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về kiến thức mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và phát triển kỹ năng toán học.

II. Phương pháp đánh giá năng lực tính toán

Đánh giá năng lực tính toán của học sinh tiểu học thông qua các tình huống học tập là một phương pháp hiệu quả. Phương pháp này không chỉ giúp giáo viên nhận diện được mức độ hiểu biết của học sinh mà còn giúp học sinh tự đánh giá khả năng của mình. Các công cụ đánh giá như phiếu trợ giúp, bảng quan sát hành vi, và các bài kiểm tra thực hành được sử dụng để thu thập dữ liệu về năng lực tính toán của học sinh. Việc đánh giá này cần được thực hiện liên tục và đồng bộ với quá trình dạy học để đảm bảo tính chính xác và khách quan.

2.1. Công cụ đánh giá

Công cụ đánh giá năng lực tính toán bao gồm các bài kiểm tra, phiếu khảo sát và các hoạt động trải nghiệm. Những công cụ này giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về năng lực của học sinh trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc sử dụng các tình huống học tập thực tế trong đánh giá không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng mà còn tạo ra động lực học tập tích cực. Đặc biệt, các tình huống học tập cần được thiết kế sao cho phù hợp với độ tuổi và khả năng của học sinh, từ đó giúp họ dễ dàng tiếp cận và thực hành.

III. Thực trạng và giải pháp

Thực trạng việc thiết kế và sử dụng tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh tiểu học hiện nay còn nhiều hạn chế. Nhiều giáo viên chưa nắm rõ cách thiết kế tình huống học tập hiệu quả, dẫn đến việc áp dụng không đồng bộ và thiếu tính sáng tạo. Để khắc phục tình trạng này, cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho giáo viên về phương pháp thiết kế tình huống học tập. Đồng thời, việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên cũng rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học và đánh giá năng lực học sinh.

3.1. Đề xuất giải pháp

Giải pháp cho vấn đề này bao gồm việc tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên về thiết kế tình huống học tập, khuyến khích giáo viên sáng tạo trong việc xây dựng các tình huống học tập phù hợp với nội dung chương trình. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ phía nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục trong việc cung cấp tài liệu và công cụ cần thiết cho giáo viên. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong thiết kế tình huống học tập cũng là một hướng đi mới, giúp giáo viên dễ dàng tạo ra các tình huống học tập phong phú và đa dạng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 và cách thiết kế THHT ở chương 2. Học qua trải nghiệm Chúng ta biết rằng trẻ em tập đi bằng cách tự đi chứ không phải bằng cách được dạy các quy tắc để đi và rồi thực hành các bài tập về đi, chính kinh nghiệm từ những lần vấp ngã trẻ sẽ rút ra cách để đi không bị ngã. Vì vậy để phát triển trí tuệ nói chung, NLTT nói riêng cần tạo cơ hội cho HS được học bằng trải nghiệm và thông qua trải nghiệm để tích lũy kinh nghiệm. Có nhiều nghiên cứu về học qua trải nghiệm, nổi bật có chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb [Dẫn theo 42, tr.53-54]: Kinh nghiệm cụ thể (cảm nhận)  Quan sát phản chiếu (nhìn)  Khái niệm hoá (tư duy)  Thử nghiệm tích cực (làm).

Theo chu trình này, HS sử dụng kinh nghiệm đã có để xem xét tình huống đang xử lí, từ đó phân tích logic những ý tưởng và hành động trên tình huống để đi đến thử nghiệm những ý tưởng và hành động đã phân tích. Mặt khác, để tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm thì Coleman đề xuất 4 bước [Dẫn theo 42, tr.57]: 1- Người học tham gia vào hoạt động trong tình huống cụ thể, 2-Người học tìm cách hiểu bản chất các hiệu quả trong tình huống hoạt động vừa qua đem lại, 3-Tìm cách hiểu những nguyên lí chính, nguyên lí chung nhất mà khi hoạt động nó sinh ra kết luan an 14 quả như trên trong một lớp các tình huống như vậy, 4-Khái quát hoá nguyên lí thu được để xử lí các tình huống mới. Như vậy, để tổ chức học qua trải nghiệm cần bắt đầu từ việc cho HS hoạt động trong một tình huống, sau đó HS cần hiểu bản chất và nguyên lí ẩn chứa trong tình huống, từ đó khái quát và vận dụng cho nhưng tình huống mới. Kế thừa các nghiên cứu nêu trên, để tạo cơ hội cho HS trải nghiệm trên THHT thì cần cài đặt các khó khăn sai lầm, cài đặt các hoạt động trong THHT để HS thông qua hoạt động tích lũy kinh nghiệm tính toán cho các THHT tương tự.

Ngoài ra, quan điểm “Học qua làm, học bắt đầu từ làm” cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhà tâm lí học John Dewey [Dẫn theo 42, tr. Theo quan điểm này, dạy học phải giao việc cho HS làm, những tri thức đạt được thông qua làm việc mới chính là tri thức được lĩnh hội thực sự. Tri thức sẽ được hình thành và cũng cố bởi chính sự khám phá của HS hoặc bởi sự truyền đạt từ HS đã biết sang HS chưa biết, các ý tưởng tính toán được phản ánh và điều chỉnh, từng thao tác tính toán được xem xét cẩn thận, phù hợp. Sự trải nghiệm không những là nguồn gốc của kiến thức mà còn là môi trường kiểm chứng kiến thức thu được.

Đối với HS tiểu học, khả năng học hỏi từ kinh nghiệm hết sức có ý nghĩa, đồng thời việc lưu giữ kinh nghiệm sẽ giúp ích trong tính toán để giải quyết các tình huống tương tự. Như vậy, để đảm bảo HS được trải nghiệm cần cho HS được trực tiếp tham gia vào hoạt động trong các THHT. Như vậy, HS được trải nghiệm nghĩa là HS được trực tiếp tham gia vào hoạt động, kết quả của trải nghiệm là hình thành được kinh nghiệm mới, năng lực mới, thái độ, giá trị mới,… Các mức độ của trải nghiệm thể hiện trên chính cá nhân chủ thể nhằm cải biến bản thân trên các bình diện sau: Từ hiểu biết hẹp chuyển sang hiểu biết rộng hơn, từ chưa biết vận dụng chuyển sang biết vận dụng, từ biết vận dụng chuyển sang vận dụng link hoạt, từ vận dụng linh hoạt chuyển sang vận dụng sáng tạo,… 1. Hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học 1.

Quan niệm hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học Theo Hoàng Phê (2011), tính toán theo nghĩa thứ nhất là thực hiện các phép tính để biết, để thấy ra; theo nghĩa thứ hai là suy tính, cân nhắc trước khi làm việc gì [51, tr. Như vậy, tính toán không chỉ có thực hiện các phép tính mà cần phải tư duy để tìm cách biến đổi vấn đề, chuyển đổi ngôn ngữ, xem xét vấn đề dưới nhiều khía cạnh để giải quyết tình huống một cách hiệu quả; tính toán cũng cần biểu luan an 15 diễn trực quan để hiểu các đối tượng, để nhận ra các quy luật, để đưa vấn đề phức tạp về vấn đề đơn giản; tính toán cũng cần mô hình hóa nếu gặp các tình huống thực tiễn,. Mặt khác, chương trình toán cuối cấp tiểu học đã tập trung phát triển tư duy trừu tượng, HS có nhiều cơ hội để sử dụng các phép tính, công thức, quy tắc, quy trình; sử dụng công cụ toán; sử dụng các thao tác tư duy; sử dụng ngôn ngữ toán và mô hình hoá toán học. Theo đó, hoạt động tính toán của HSCCTH có thể hiểu là các hoạt động của HS nhằm biến đổi vấn đề để quy lạ về quen, từ đó sử dụng vốn tri thức đã có để giải quyết THHT.

Như vậy, các hoạt động tính toán có thể có bao gồm: Hoạt động sử dụng các phép tính, công thức, quy tắc, quy trình; hoạt động sử dụng công cụ toán; hoạt động sử dụng các thao tác tư duy; hoạt động sử dụng ngôn ngữ toán và hoạt động mô hình hoá toán học. Trong trải nghiệm tính toán giải quyết THHT, các hoạt động tính toán nêu trên phụ thuộc và hỗ trợ nhau. Trong đó, hoạt động sử dụng các thao tác tư duy và hoạt động sử dụng ngôn ngữ toán liên hệ mật thiết với nhau vì tư duy tồn tại dưới hình thức ngôn ngữ và ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy. Hoạt động tính toán bên ngoài và bên trong của học sinh cuối cấp tiểu học Theo Vưgotsky, hoạt động tâm lí xuất phát từ hoạt động bên ngoài.

Đã gọi là “hoạt động tâm lí” thì phải có động cơ, động cơ ấy phải được vật thể hoá ra ngoài. Nói cách khác, những hứng thú, NL của chủ thể được đưa vào cấu trúc của hoạt động bên ngoài và nhờ đó chúng mới có thể phát triển. Hoạt động bên trong là những hoạt động trí tuệ với các hiện thực tâm lí, hoạt động bên ngoài là hoạt động vật chất với các đối tượng. Theo quan điểm Mácxít thì “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”.

Theo Watson, sự chuyển hoá của quá trình bên ngoài thành quá trình bên trong theo con đường: Hành vi ngôn ngữ  nói thầm  nói không có tiếng. Theo Piaget, vai trò của hành động trong quá trình hình thành tư duy chủ yếu là quá trình chuyển vào trong “Từ bình diện cảm giác - vận động sang ý nghĩ” (dẫn theo [41], tr. Do đó, trước hết phải nghiên cứu hoạt động có đối tượng bên ngoài, tiếp đó, bằng sự chuyển hoá mà có được hoạt động tâm lí. Bản thân sự chuyển vào trong ấy đã giả định có một cơ cấu chung cho cả hoạt động bên ngoài lẫn hoạt động bên luan an 16 trong; tức là vừa thực hiện quá trình vật thể hoá khái niệm, tư tưởng, vừa ngược lại, lấy ra từ vật thể, khái niệm, tư tưởng đã “gửi vào” trước đó.

Đối tượng chính là nội dung của hoạt động tâm lí. Nói cách khác, trong tâm lí sẽ có những gì đã có trong đối tượng, hoặc ngược lại, những gì có trong tâm lí, phải được đối tượng hoá ra ngoài. Vì hoạt động tính toán là một dạng hoạt động của con người nên nó tuân theo sự chuyển hóa nêu trên. Hoạt động tính toán qua trải nghiệm của HS là hoạt động có tổ chức, ban đầu thực hiện vật chất ở bên ngoài (nói, viết, làm, tạo ra, thái độ) thông qua tương tác và giao tiếp, sau đó biến hình thức bên ngoài thành hình thức bên trong, thành NL thông qua thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát,.

Ngược lại, NL của HS được bộc lộ bằng hoạt động và qua các hoạt động cụ thể. Tính chất của hoạt động càng khó khăn phức tạp bao nhiêu thì NL của HS càng bộc lộ rõ nét bấy nhiêu. Sự chuyển hoá hoạt động trên đây cho phép ta tổ chức quá trình khách quan và kiểm soát được bên ngoài chủ thể, chẳng hạn thiết kế THHT dựa trên các hoạt động trải nghiệm và sử dụng các THHT đã thiết kế để đánh giá NLTT của HS qua các hoạt động tính toán đã bộc lộ của các em. Tri thức thúc đẩy hoạt động tính toán của học sinh cuối cấp tiểu học Tri thức không thể tách khỏi hoạt động tính toán.

Thậy vậy, theo Nguyễn Bá Kim (2015), tri thức vừa là điều kiện vừa là kết quả của hoạt động [40]. Điều kiện của hoạt động tính toán là vốn tri thức kinh nghiệm đã có, nó là yếu tố điều chỉnh hoạt động tính toán. Còn kết quả của hoạt động tính toán là tri thức mới (các đối tượng toán học mới, các quy luật toán học mới đối với HS), nó là yếu tố định hướng hoạt động tính toán. Không những thế, tri thức còn là một thành tố của NL nói chung và NLTT nói riêng.

Đặc biệt, tri thức gắn liền với tư duy tính toán. Thật vậy, theo M. Crugliac (1976), tri thức và tư duy gắn bó với nhau như một sản phẩm đi đôi với quá trình [1, tr. Tư duy kết nối hệ thống tri thức đã biết đến các tri thức cần biết, những tri thức kinh nghiệm đã có góp phần điều chỉnh hoạt động trí tuệ để HS trải nghiệm khám phá tri thức mới.

Tri thức phương pháp Tri thức phương pháp gồm: Tri thức phương pháp có tính chất thuật toán và tri thức phương pháp có tính chất tìm đoán [57, tr. Toán tiểu học thường sử dụng các tri thức phương pháp có tính chất tìm đoán như: Phương pháp luan an 17 tiến hành hoạt động ngôn ngữ, phương pháp tìm tòi lời giải của G. Polya, các phương pháp giải bài toán, phương pháp tiến hành hoạt động suy luận để dự đoán. Ví dụ 2: HS có thể nhẩm nhanh 15  15  15  15  200  200  200  15  675 , bằng cách phối hợp kiến thức đã có (tách số, phép nhân, số tròn chục cộng một số, tính chất giao hoán) để đưa cách tính cồng kềnh về cách tính đơn giản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về thiết kế tình huống học tập hỗ trợ đánh giá năng lực tính toán của học sinh tiểu học" của tác giả Phạm Thị Kim Châu, dưới sự hướng dẫn của Phạm Xuân Chung tại Trường Đại Học Vinh, tập trung vào việc phát triển các tình huống học tập nhằm đánh giá năng lực tính toán của học sinh tiểu học. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp lý thuyết và phương pháp dạy học bộ môn Toán mà còn đưa ra những ứng dụng thực tiễn trong việc thiết kế tình huống học tập, giúp giáo viên có thể đánh giá chính xác hơn năng lực của học sinh. Điều này có thể cải thiện chất lượng dạy và học môn Toán trong các trường tiểu học.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý và phương pháp dạy học trong giáo dục tiểu học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa", nơi nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học, hay "Luận Án Tiến Sĩ Về Thiết Kế Tình Huống Dạy Học Hiệu Quả Môn Toán Ở Tiểu Học", cung cấp thêm góc nhìn