CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý thuyết của quá trình tự học 1. Khái niệm tự học Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn.
Khổng Tử – nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc ngay từ trước công nguyên đã nhấn mạnh “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Nói cách khác, việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Ở phương Tây cùng giai đoạn Socrat cũng đã nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” nhằm hướng học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận.
Đến thế kỷ XX, khi tự học trở thành nhu cầu của thời đại thì khái niệm này được đặc biệt chú ý nghiên cứu và phát triển. Candy (1987) xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học. Đơn cử như: tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Khi đi vào nghiên cứu sâu hơn, Brockett & Hiemstra quan niệm có 2 đặc điểm của tự học là: đặc điểm bên trong - tính tự định hướng của người đọc và đặc điểm bên ngoài - quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm. Hai đặc điểm này có quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau.
Ở Việt Nam, từ điển giáo dục học định nghĩa: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. [25, tr59-60] Theo tác giả Trần Bá Hoành: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp”…[16] Tác giả Thái Duy Tuyên trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, có viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [26].
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Tự học là một bộ phận của việc học. Nó là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định. Trong quá trình đào tạo, khi được xem xét dưới góc độ một hình thức tổ chức dạy học chúng ta nhận thấy tự học bộc lộ những điểm ưu việt so với các hình thức dạy học khác.
Cụ thể như: “thúc đẩy tính mục đích cao (huy động động cơ học tập bên trong của người học), tổ chức cấu trúc logic rõ ràng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo tuyến mục tiêu và nội dung thực hiện trong hệ thống các hoạt động chung hướng đến kết quả, yêu cầu mức độ tự nhận thức cao, khả năng tự đánh giá, nhận định tốt, ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao. Đồng thời người dạy sẽ chuyển vai trò từ truyền đạt tri thức sang quản lý tri thức và quá trình chuyển giao” [A. Hiện nay, trong nỗ lực tìm kiếm các phương án tổ chức dạy học hiệu quả, các nhà sư phạm đã tìm đến hình thức tổ chức tự học như một cách tổ chức hoạt động nhận thức hữu hiệu. Các hình thức tự học Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học làm hai loại: - Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự học của người học diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của người dạy theo kế hoạch giáo dục đã định sẵn.
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học tập. Xét về mức độ và cách thức tự học có ba hình thức tự học sau: - Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu và vận dụng các kiến thức trong đó - Tự học có hướng dẫn gián tiếp: GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác - Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Người học có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần và được GV hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học. Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có: - Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người dạy. - Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có thể với bạn, với người dạy) trong học tập để nghiên cứu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng.
Hình thức tự học này có thể có hoặc không có sự hướng dẫn của người dạy. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tập trung vào hoạt động tự học chủ yếu của HS ở bậc học THPT: tự học kết hợp giữa học cá nhân với học tương tác có hướng dẫn của GV. Nói cách khác, xuyên suốt hoạt động tự học này sẽ có 2 quá trình được triển khai đồng thời có tác động tương hỗ lẫn nhau, đảm bảo cho việc thực hiện thành công mục tiêu dạy học: việc tổ chức của người dạy (để người học tự học) và tự tổ chức của người học (để tự học). Chu trình tự học Đối với HS Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (sản phẩm thô) có tính chất cá nhân.
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, cô giáo; sau khi thầy, cô giáo kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học. Nguồn: Quá trình dạy – tự học, Sơ đồ: 1. Chu trình tự học 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy hoạt động tự học của HS là quá trình hoạt động học tập chủ động tích cực của người học đặt trong mối quan hệ tương tác với bạn dưới sự định hướng của GV.
Qua quá trình này HS có thể khám phá, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống tri thức theo đúng mục tiêu đề ra. Đối với GV Quá trình tổ chức dạy học tự học chính là việc thiết kế và tổ chức các nhiệm vụ tự học cụ thể theo những chỉ định rõ ràng (về mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá). Trong quá trình thực hiện GV cần đánh giá, phân tích tác động qua kết quả phản hồi của HS đặt trong tương quan so sánh với mục tiêu. Từ đó có những điều chỉnh phù hợp giúp HS hình thành các năng lực cần thiết.
Thiết kế hoạt động tự học cụ thể Mục Kết quả tự học tiêu trùng Năng lực Phân khớp/không cần được tích trùng khớp hình (với mục tiêu) thành Thực hiện hoạt động tự học cụ thể Nguồn: Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trong dạy học ở bậc đại học Sơ đồ: 1. Quá trình dạy tự học và năng lực hình thành Trong quá trình tổ chức dạy học tự học của GV cần đảm bảo những yêu cầu sau: - Nhiệm vụ học tập bám sát mục tiêu, nội dung môn học, phù hợp với năng lực, kiến thức nền của đối tượng người học - Đảm bảo tính logic, hệ thống và có sự gắn kết với các hình thức dạy học trên lớp - Nội dung có tính thực tiễn cao, hình thức phong phú, có tính tích hợp, liên môn, gắn với việc hình thành hệ thống kỹ năng cụ thể. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kiểm soát được quá trình tự học của người học, có sự hỗ trợ, tương tác thường xuyên và kịp thời.