CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Đổi mới phương pháp dạy học – yêu cầu cấp bách của thời đại Giáo dục thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là CNTT. Trên thế giới sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con ngừơi, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn. Xã hội đòi hỏi ngừơi có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi nguời. Chính vì thế một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử…”.68] Có thể nói mục tiêu cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới họat động học tâp chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Xu hướng đổi mới PPDH Vật lý Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học là giúp cho học sinh tích cực chủ động sáng tạo trong học tập, xóa bỏ thói quen học tập thụ động. Từ những nhận định trên có thể thấy rằng việc đổi mới PPDH cần phải đặt trong một hệ thống chứ không thể coi PPDH là một thành tố độc lập. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Tóm tắt quy trình lập kế hoạch dạy học Xác định, phân tích nhu cầu người học Xác định mục đích, mục tiêu Thiết kế cấu trúc Nội dung Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học PP dạy PP học KTĐG thường xuyên Xác định hình thức, PP kiểm tra đánh giá Đánh giá cải tiến, phát triển chuyên môn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lý của học sinh Môn học Vật lý được triển khai bắt đầu từ việc tìm hiểu và nhận diện được nhu cầu và phong cách học tập của học sinh.
Các thông tin đầy đủ về nhu cầu, kỳ vọng và phong cách học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên phác họa được kế hoạch tổ chức triển khai và quản lí hiệu quả việc dạy học, thúc đẩy các quá trình tìm kiếm cơ hội hỗ trợ cho học sinh trong suốt quá trình dạy học. Các phương pháp tìm hiểu học sinh Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp để thu thập thông tin về học sinh. Các phương pháp cần đảm bảo tính tích hợp, đa chiều, mở và đơn giản (bằng các con đường tự nhiên nhất) 1. Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lý Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lý được coi là khâu trọng tâm cho việc lập kế hoạch dạy học và kiểm tra đánh giá sau này.
Mục tiêu dạy học được xây dựng nhằm thực hiện 2 chức năng chính: - Định hướng trong dạy và học. - Căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả tiến bộ của học sinh. Dựa trên mục tiêu yêu cầu của phân phối chương trình, giáo viên cần cụ thể hóa các mục tiêu đáp ứng các chỉ số về các tiêu chí hành vi (làm được gì?), tiêu chí thực hiện (làm được bao nhiêu là đủ) và tiêu chí điều kiện (làm được trong điều kiện nào?). Tham khảo tiêu chí SMART trong xây dựng mục tiêu: S (specific): cụ thể, chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu M (measuable): quan sát được, đo đếm được A (achiveable): khả thi, vừa sức R (realistic): thực tế T (time-scale): có giới hạn về thời gian Gợi ý xây dựng mục tiêu dạy học môn Vật lý - Xác định mục tiêu chuẩn (trung bình) cần phải đạt - Bắt đầu bằng tuyên bố: “sau bài học này (phần này, chương này.) người học sẽ/có thể/phải:…………….” - Sử dụng các động từ chỉ hành vi, có thể quan sát, lượng hóa được - Sử dụng 6 thang bậc tư duy nhận thức của B.Bloom để phân cấp mức mục tiêu: - Gộp nhóm các mục tiêu cùng cấp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận Hình 1.2: Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận Nội dung Mục tiêu Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Nội dung 1 Nội dung 2 Nội dung 3 Nội dung N - Chia sẻ ý kiến đồng nghiệp 1.
Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lý Nội dung chương trình (ND1) và nội dung dạy học cụ thể trên lớp (ND2). ND1: là toàn bộ nội dung kiến thức được thiết kế mang tính tổng thể, chung cho một cấp học, chương trình học, được được trình bày theo một trật tự logic khoa học, được qui định và thể chế hóa (chương trình sách giáo khoa) ND2: là những nội dung dạy học theo chương trình nhưng đã được cấu trúc lại nhưng vẫn đảm bảo tính hệ thống, logic khoa học, được trình bày trong các hình thức dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường hợp dạy học cụ thể) Như vậy, để đảm bảo thực hiện đúng, đủ các yêu cầu về nội dung dạy học của chương trình đề ra, đảm bảo mục tiêu dạy học đồng thời dung hòa được những áp lực về thời gian, không gian, đối tượng…bất kỳ giáo viên nào cũng cần phải thực hiện quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Việc cấu trúc lại nội dung chương trình dạy học giúp cho giáo viên: - Tăng khả năng áp dụng đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (trong và ngoài giờ lên lớp) - Phân bổ thời gian triển khai một cách hợp lý (có thể coi là một trong những giải pháp “giảm tải” hiện nay) - Tăng cơ hội dạy học phân hóa (cho toàn lớp/ nhóm/cá nhân) - Tăng cơ hội học tập tích cực cho học sinh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kích thích tính chủ động của học sinh - Thiết kế đa dạng các bài tập thực hành, tình huống có vấn đề, bài tập nghiên cứu… Ví dụ: ND1 = N1 + N2 +……+ N10 Trong đó: N1 …… N10 là các nội dung theo yêu cầu của chương trình N1, N3, N7 là những nội dung cốt lõi (ND2CL) N2, N5, N4, N9 là những nội dung cơ bản (ND2CB) N6, N8, N10 là những nội dung bổ trợ (ND2BT) Như vậy chẳng hạn đối với ND2CL (gồm N1, N3, N7) giáo viên có thể sẽ sử dụng nhiều thời gian hơn để giảng bài trên lớp, cho học sinh làm bài luyện tập, tăng cường hơn các phương pháp tích cực… nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chắc chắn. Nhưng đối với các nội dung bổ trợ ND2BT (gồm N6, N8, N10), giáo viên có thể không dạy trực tiếp trên lớp mà tích hợp vào các bài tập nghiên cứu, tình huống… để giao cho học sinh về nhà làm (có hướng dẫn và tiêu chí kiểm tra đánh giá).
Lựa chọn phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học Việc lựa chọn các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, phương tiện và môi trường dạy học đóng vai trò quyết định đến tính hiệu quả và hiệu suất của quá trình dạy học Vật lý, nó đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên, năng lực sư phạm (và đương nhiên cả năng lực chuyên môn), khả năng dự báo các tình huống khó khăn cũng như hiểu biết thấu đáo về đối tượng học sinh trong lớp. Việc triển khai, tổ chức các hình thức và phương pháp dạy học cần bám sát vào mục tiêu, nội dung và đối tượng người học 1. Yêu cầu của việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học: - Đa dạng, tạo cơ hội đáp ứng phong cách học của học sinh - Khả thi - Thúc đẩy hứng thú, tích cực của học sinh 1. Yêu cầu của việc lựa chọn phương pháp dạy học: - Khoa học và hiệu quả (phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học…) - Khả thi (phù hợp năng lực, điều kiện khách quan, chủ quan, thời gian…) - Hỗ trợ học tập tích cực (tạo cơ hội để dạy học phân hóa, tương tác…) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Yêu cầu của việc lựa chọn phương tiện dạy học: - Tính sư phạm - Tính kinh tế - Tính khả thi 1. Yêu cầu tạo dựng môi trường học tập - An toàn (môi trường bên ngoài và bên trong học sinh) - Thân thiện - Công bằng Các hoạt động của giáo viên và học sinh cần được tính toán, cân nhắc, triển khai thử nghiệm và rút kinh nghiệm, cải tiến thường xuyên. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, cải tiến, khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp cần được tiến hành thường xuyên song song với việc lấy ý kiến phản hồi từ học sinh và đồng nghiệp. Mặt khác, việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và môi trường dạy học còn bị chi phối bởi triết lý giảng dạy và sự nhận thức của chính giáo viên về vai trò của bản thân và học sinh.
Một số vai trò mới của người giáo viên theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại: - Người định hướng - Người chỉ dẫn - Người hỗ trợ - Chuyên gia Một khía cạnh không kém phần quan trọng hỗ trợ cho quá trình dạy học hiệu quả là vấn đề xây dựng nguồn học liệu hỗ trợ dạy học.