phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục thành bốn chƣơng nhƣ sau: 1. Cở sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu (trình bày, phân tích cơ sở lý luận của việc lồng ghép BĐKH vào quy hoạch ngành; trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến các vấn đề nghiên cứu; trình bày tổng quan khu vực nghiên cứu ) 2. Phƣơng pháp, nguồn số liệu 3. Biến đổi khí hậu với ngành thủy sản tại tỉnh Bình Định và tính dễ bị tổn thƣơng của xã Cát Khánh 4.
Lồng ghép BĐKH vào quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bình Định thông qua đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng. 4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Do chƣơng trình đào tạo và hƣớng nghiên cứu mang tính liên ngành cao nên để thống nhất trong việc luận giải mối tƣơng quan giữa các lĩnh vực khác nhau rất cần có các khái niệm liên quan sẽ đƣợc trình bày dƣới đây: Biến đổi khí hậu Sự thay đổi của khí hậu [58] trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu.
Trong đó, trung bình đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ. Theo IPCC, BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007). Lồng ghép Lồng ghép đề cập đến sự tích hợp của các mục tiêu, chiến lƣợc, chính sách, biện pháp hoặc các hoạt động thích ứng theo cách khiến chúng trở thành một phần của các chính sách phát triển quốc gia và vùng miền, các quy trình và ngân sách ở tất cả các cấp và giai đoạn (UNDP, 2005).
Định nghĩa về “tích hợp các vấn đề BĐKH” đƣợc rút ra từ định nghĩa về “tích hợp khí hậu” (climate integration) của Underdal (1980) và định nghĩa về “tích hợp chính sách môi trƣờng” (environmental policy integration) của Laffy và Hovden (2003) bằng cách thay từ “môi trƣờng” bằng từ “khí hậu”. Theo cách này, “tích hợp chính sách BĐKH” (climate policy integration) hay lồng ghép (mainstreaming) đƣợc định nghĩa là: Đƣa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bƣớc của quá trình hoạch định chính sách của tất cả các ngành; 5 z Tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH trong khi tiến hành đánh giá tổng quan chính sách va giảm thiểu mâu thuẫn giữa các chính sách BĐKH và các chính sách khác. Nhƣ vậy lồng ghép BĐKH vào Chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là một phƣơng pháp tiếp cận nhằm đạt đƣợc các biện pháp ứng phó với BĐKH thông qua sự lồng ghép các chính sách và biện pháp này trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội các cấp nhằm đảm bảo ổn định trong các hoạt động đầu tƣ và giảm tính dễ bị tổn thƣơng của các lĩnh vực kinh tế-xã hội do tác động của BĐKH. Lồng ghép vấn đề BĐKH do đó có thể đảm bảo rằng các chƣơng trình phát triển chính sách không làm tăng rủi ro trƣớc những thay đổi về khí hậu ở hiện tại và tƣơng lai.
Lồng ghép các chính sách BĐKH bao gồm theo chiều ngang và theo chiều dọc thông qua một loạt các cấp quản lý. Lồng ghép chính sách theo chiều ngang: Là đƣa mục tiêu BĐKH vào các chính sách công của chính phủ [47], [55]. Các chiến lƣợc ứng phó với BĐKH, việc chuẩn bị và phê duyệt các quy định mới và ngân sách nhà nƣớc hàng năm có liên quan đến BĐKH đều đƣợc coi là lồng ghép chính sách theo chiều ngang. Lồng ghép chính sách theo chiều dọc: Là đƣa nội dung BĐKH vào chính sách ngành, ví dụ nhƣ thủy sản.
Hoạt động lồng ghép có thể xảy ra trong quá trình ra quyết định và xây dựng các chiến lƣợc phát triển cho ngành ở cấp Bộ và trong việc xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch hành động ở các cấp dƣới Bộ [47], [55]. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách ở các cấp dƣới có khả năng bị xa rời mục tiêu chính sách ban đầu đƣa ra tại cấp Bộ [59]. Tính dễ bị tổn thƣơng Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng đƣợc ứng dụng theo các hƣớng khác nhau. Trong BĐKH, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có đƣợc định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất.
Khái niệm đƣợc ứng dụng rộng rãi hiện nay là khái niệm do IPCC 2007 xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hƣởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn thƣơng là hàm số của tính chất, cƣờng độ và mức độ phơi lộ (hứng chịu) của các 6 z biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống [IPCC, 2007) [50]. Tóm lại, tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH. Tính dễ bị tổn thƣơng là sự kết hợp của sự phơi nhiễm với những rủi ro khí hậu, tính nhạy cảm với những rủi ro đó và năng lực thích ứng.
Áp dụng trong một ví dụ cụ thể, sự phơi nhiễm có thể có nghĩa là sống trong vùng lũ, chẳng hạn gần một con sông, trong khi sự nhạy cảm có nghĩa rằng ngôi nhà của bạn đƣợc làm bằng những vật liệu mỏng manh và nằm trực tiếp trên mặt đất, vì vậy lũ có thể dễ dàng phá hủy nó; và năng lực thích ứng nghĩa là có thể tránh đƣợc những nguy hại đó bằng cách chuyển đi hoặc xây nhà sàn kiên cố1 [50]. Ứng phó với biến đổi khí hậu Là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Nhƣ vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ TN&MT, 2008). Với nhận thức rằng BĐKH là một quá trình không thể đảo ngƣợc đƣợc, chúng ta cần có những nỗ lực để ổn định khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp tiêu cực của con ngƣời đối với hệ thống khí hậu (giảm nhẹ BĐKH) và giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra (thích ứng với BĐKH).
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT-XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ TN&MT, 2008). Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải KNK (Bộ TN&MT, 2008). Quy hoạch phát triển ngành Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng, lựa chọn phƣơng án phát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cả nƣớc và trên các vùng, lãnh thổ [19]. 1 Theo định nghĩa của IPCC, 2007 và bởi Kelly và Adger (2000).
7 z Nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thuỷ sản là sự tác động của con ngƣời vào ít nhất một giai đoạn trong chu trình sinh trƣởng, phát triển của đối tƣợng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệ sống, tốc độ sinh trƣởng để đạt hiệu quả kinh tế cao. Là quá trình nuôi trồng các loài thủy sinh ở trong đất liền và vùng ven bờ, bao gồm cả sự can thiệp vào quá trình ƣơng nuôi để tăng sản lƣợng và các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động nuôi trồng thủy sản. Theo định nghĩa của FAO thì nuôi trồng thuỷ hải sản là các hoạt động canh tác trên đối tƣợng sinh vật thuỷ sinh nhƣ nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh. Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong.
Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu Luận văn xác định các vấn đề nghiên cứu chính là: đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH của địa bàn nghiên cứu và thực trạng năng lực ứng phó của địa phƣơng, từ đó xác đinh các giải pháp ứng phó cho cộng đồng; tổng quan lại khung lồng ghép thích ứng với BĐKH gồm có các nội dung về quan điểm, cách tiếp cận, nội dung và quy trình lồng ghép. Từ việc đánh giá TDBTT kết hợp với khung lồng ghép này để tiến hành lồng ghép các vấn đề BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản của tỉnh Bình Định. Toàn bộ ý tƣởng, cách tiếp cận và quy trình thực hiện nghiên cứu cho luận văn đƣợc mô tả bằng sơ đồ dƣới đây. Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Kinh nghiệm quốc tế về lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu Ở thế kỷ 21, BĐKH đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia. Vào năm 1896, lần đầu tiên, vấn đề BĐKH đã đƣợc Arrhenius, nhà khoa học ngƣời Thụy Điển đề cập đến. Cuối thập niên 1980, tổ chức IPCC - Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH ra đời cùng với Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hợp Quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT-XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con ngƣời gây ra” (IPCC, 2007).
Kể từ đó đến nay, nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại các quốc gia đƣợc dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam.