Luận Án: Biện Pháp Thích Ứng BĐKH và Hiệu Quả Nuôi Tôm Biển tại Bến Tre

Thích ứng BĐKH để nuôi tôm bền vững tại Bến Tre. Giải pháp hiệu quả giúp người nuôi tôm ứng phó biến đổi khí hậu, tăng năng suất và lợi nhuận.

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ nông nghiệp

2022

247
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM TẠ

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tính cấp thiết về mặt lý luận

0.3. Tính cấp thiết về mặt thực tiễn

0.4. Mục tiêu nghiên cứu

0.5. Mục tiêu tổng quát

0.6. Mục tiêu cụ thể

0.7. Câu hỏi nghiên cứu

0.8. Đối tượng nghiên cứu

0.9. Phạm vi nghiên cứu

0.10. Phạm vi không gian

0.11. Phạm vi thời gian

0.12. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.13. Ý nghĩa khoa học

0.14. Ý nghĩa thực tiễn

0.15. Cấu trúc của luận án

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm, nguyên nhân và tác động của biến đổi khí hậu

1.2. Khái niệm, nguyên nhân của biến đổi khí hậu

1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và thủy sản

1.4. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp Việt Nam

1.5. Tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản ven biển Việt Nam 10

1.6. Nguồn lực sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu

1.7. Sinh kế và sinh kế bền vững

1.8. Nguồn lực sinh kế và biến đổi khí hậu

1.9. Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và phương pháp đánh giá

1.10. Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

1.11. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

1.12. Đánh giá tính dễ bị tổn thương có sự tham gia

1.13. Đánh giá tính dễ bị tổn thương bằng chỉ số tổn thương sinh kế

1.14. Đánh giá tính dễ bị tổn thương theo cách tiếp cận IPCC

1.15. Một số phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương khác

1.16. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp

1.17. Khái niệm và phân loại thích ứng với biến đổi khí hậu

1.18. Lý thuyết về sự lựa chọn biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu

1.19. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp

1.20. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu

1.21. Mô hình nghiên cứu về quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng

1.22. Rào cản thích ứng với biến đổi khí hậu

1.23. Hiệu quả sản xuất và các phương pháp đo lường hiệu quả sản xuất

1.24. Khái niệm hiệu quả sản xuất

1.25. Phương pháp ước lượng hiệu quả sản xuất

1.26. Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu

1.27. Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên

1.28. Hàm sản xuất và hàm lợi nhuận chuẩn hóa

1.29. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm đánh giá hiệu quả sản xuất

1.30. Đánh giá hiệu quả sản xuất bằng phương pháp hạch toán tài chính

1.31. Đánh giá hiệu quả sản xuất bằng phương pháp hiện đại

1.32. Ảnh hưởng BĐKH đến kết quả, hiệu quả sản xuất nông nghiệp

1.33. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.34. Diễn biến thời tiết và khí hậu tại tỉnh Bến Tre

1.35. Tác động của biến đổi khí hậu đến vùng ven biển tỉnh Bến Tre

1.36. Khái quát tình hình nuôi tôm ở Việt Nam và Bến Tre

2. Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cách tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích luận án

2.2. Cách tiếp cận nghiên cứu

2.3. Khung phân tích của luận án

2.4. Quy trình nghiên cứu của luận án

2.5. Phương pháp thu thập thông tin

2.6. Thông tin thứ cấp

2.7. Thông tin sơ cấp

2.8. Chọn địa điểm nghiên cứu

2.9. Chọn mẫu nghiên cứu

2.10. Phương pháp phân tích thực trạng thích ứng BĐKH của hộ nuôi tôm biển

2.11. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương của hộ nuôi tôm do BĐKH

2.12. Đề xuất bộ chỉ số đánh giá TDBTT của hộ nuôi tôm do BĐKH

2.13. Các bước tiến hành tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do BĐKH

2.14. Đánh giá TDBTT của hộ nuôi tôm biển do BĐKH ở tỉnh Bến Tre

2.15. Phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm

2.16. Phương pháp phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đến hiệu quả nuôi tôm

2.17. Phương pháp hạch toán tài chính

2.18. Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

2.19. Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên

2.20. Hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên

2.21. Hàm phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả kinh tế

2.22. Công cụ sử dụng phân tích số liệu

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phân tích thực trạng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm

3.2. Nhận thức về biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm khu vực nghiên cứu

3.3. Nhận thức về các hiện tượng thời tiết bất thường

3.4. Nhận thức về xu thế biến động của các hiện tượng BĐKH

3.5. Nhận thức ảnh hưởng của các hiện tượng BĐKH đến nuôi tôm

3.6. Nguồn lực sinh kế của hộ nuôi tôm trong bối cảnh biến đổi khí hậu

3.7. Nguồn lực con người

3.8. Nguồn lực tự nhiên

3.9. Nguồn lực vật chất

Tóm tắt

I. Bí quyết thích ứng BĐKH tối ưu hiệu quả nuôi tôm Bến Tre

Bến Tre, một tỉnh ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm năng lớn cho phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là ngành nuôi tôm. Ngành này đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu kinh tế địa phương, tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng triệu người dân. Tuy nhiên, Bến Tre cũng là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, bão và mưa trái mùa ngày càng gia tăng, tác động trực tiếp đến hiệu quả nuôi tôm Bến Tre. Nghiên cứu của Võ Thái Hiệp (2022) cho thấy, nếu không có giải pháp thích ứng kịp thời, thu nhập của các hộ nuôi tôm có thể sụt giảm nghiêm trọng. Do đó, việc phân tích các biện pháp thích ứng và đánh giá hiệu quả sản xuất là nhiệm vụ cấp thiết. Điều này không chỉ giúp nông hộ ổn định sinh kế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của toàn ngành. Bài viết này sẽ phân tích sâu các thách thức từ BĐKH, giới thiệu các biện pháp thích ứng hiệu quả và đánh giá tác động của chúng đến hiệu quả kỹ thuậthiệu quả kinh tế trong hai mô hình nuôi tôm phổ biến: tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT)tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC).

1.1. Thực trạng ngành nuôi tôm Bến Tre trước biến đổi khí hậu

Ngành nuôi tôm biển tại Bến Tre tập trung chủ yếu ở ba huyện ven biển là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Đây là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng cũng là nơi chịu sự phơi lộ cao nhất trước các tác động của BĐKH. Thực tế cho thấy, các hộ nuôi tôm tại đây đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Nhiệt độ tăng cao làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của tôm. Xâm nhập mặn sâu hơn và kéo dài hơn gây khó khăn cho việc quản lý nguồn nước ngọt. Các cơn mưa lớn, bất thường gây biến động đột ngột độ mặn và pH trong ao nuôi, tạo điều kiện cho dịch bệnh bùng phát. Những thách thức này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn làm giảm năng suất, đe dọa trực tiếp đến nguồn lực sinh kế của người dân. Theo nghiên cứu, cộng đồng người nuôi tôm quy mô nhỏ là một trong những đối tượng nhạy cảm và dễ bị tổn thương nhất trước BĐKH.

1.2. Tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả sản xuất tôm

Phân tích hiệu quả sản xuất là một công cụ quan trọng để đánh giá mức độ thành công của một mô hình kinh doanh nông nghiệp. Trong bối cảnh BĐKH, việc này càng trở nên cần thiết. Nó giúp xác định liệu các nguồn lực đầu vào như giống, thức ăn, lao động có được sử dụng một cách tối ưu để tạo ra sản lượng cao nhất hay không. Nghiên cứu về hiệu quả nuôi tôm Bến Tre chỉ ra rằng mức hiệu quả kỹ thuậthiệu quả kinh tế hiện tại của các nông hộ còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng. Điều này một phần lớn là do các tác động tiêu cực từ BĐKH. Bằng cách đo lường các mức hiệu quả này và xác định các yếu tố ảnh hưởng, các nhà hoạch định chính sách và chính người nông dân có thể tìm ra các giải pháp can thiệp phù hợp. Ví dụ, việc áp dụng đúng các biện pháp thích ứng BĐKH không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn được chứng minh là có khả năng cải thiện đáng kể hiệu suất sản xuất, từ đó nâng cao lợi nhuận và đảm bảo sinh kế bền vững.

II. Top 5 thách thức từ BĐKH đe dọa hiệu quả nuôi tôm tại Bến Tre

Biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ trong tương lai mà đã trở thành hiện thực, gây ra những thách thức hữu hình đối với ngành nuôi tôm Bến Tre. Các tác động này diễn ra trên nhiều phương diện, từ môi trường tự nhiên đến các yếu tố kinh tế - xã hội, làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của các nông hộ. Theo báo cáo của IPCC và các nghiên cứu trong nước, vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm Bến Tre, là một trong những điểm nóng về BĐKH trên toàn cầu. Các hộ nuôi tôm, đặc biệt là những hộ có quy mô nhỏ, thiếu vốn và hạn chế về kỹ thuật, là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Việc nhận diện rõ ràng các thách thức chính là bước đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các chiến lược thích ứng BĐKH hiệu quả. Phân tích của Võ Thái Hiệp (2022) đã chỉ ra 5 nhóm thách thức lớn: biến động nhiệt độ và lượng mưa, hạn hán và xâm nhập mặn, rủi ro dịch bệnh, suy thoái môi trường và các rào cản về nguồn lực. Những yếu tố này tạo thành một vòng luẩn quẩn, làm suy giảm hiệu quả kinh tế và đẩy người nông dân vào tình thế khó khăn.

2.1. Tác động từ nhiệt độ tăng và lượng mưa bất thường

Sự gia tăng nhiệt độ trung bình và các đợt nắng nóng kéo dài tác động trực tiếp đến môi trường ao nuôi. Nhiệt độ tăng làm giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước, gây stress và làm chậm tốc độ phát triển của tôm. Bên cạnh đó, các mô hình thời tiết trở nên khó dự đoán hơn. Lượng mưa phân bố không đều, những trận mưa lớn trái mùa có thể làm thay đổi đột ngột các yếu tố môi trường như độ mặn, độ pH và độ kiềm của nước. Sự biến động này tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn và virus có hại phát triển, tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Nông dân phải tốn thêm chi phí cho việc xử lý nước và sử dụng hóa chất, thuốc men, từ đó làm giảm hiệu quả sản xuất tôm.

2.2. Nguy cơ từ hạn hán xâm nhập mặn và nước biển dâng

Hạn hán và xâm nhập mặn là hai trong số những biểu hiện rõ rệt và nguy hiểm nhất của BĐKH tại Bến Tre. Tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô ngày càng trầm trọng, trong khi đó độ mặn trong các kênh rạch lại tăng cao và xâm nhập sâu vào nội đồng. Điều này gây khó khăn lớn cho việc cấp nước và duy trì độ mặn phù hợp cho ao nuôi tôm. Nước biển dâng cũng làm gia tăng nguy cơ ngập lụt, xói lở bờ bao, gây thiệt hại trực tiếp về cơ sở vật chất và có thể làm thất thoát toàn bộ vụ nuôi. Những yếu tố này làm tăng mức độ sự phơi lộ của hệ thống sản xuất trước các hiểm họa thiên tai, đòi hỏi các khoản đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng phòng chống, vượt quá khả năng của nhiều nông hộ nhỏ lẻ.

2.3. Rủi ro dịch bệnh và suy giảm chất lượng môi trường nước

Các yếu tố căng thẳng từ môi trường do BĐKH gây ra làm suy yếu hệ miễn dịch của tôm, khiến chúng dễ mắc các bệnh nguy hiểm như đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan tụy cấp tính. Sự thay đổi của nhiệt độ và chất lượng nước cũng tạo môi trường lý tưởng cho mầm bệnh lây lan nhanh chóng. Đồng thời, việc lạm dụng hóa chất và kháng sinh để đối phó với dịch bệnh trong ngắn hạn lại dẫn đến hậu quả lâu dài là ô nhiễm môi trường nước và đất. Vùng nuôi bị suy thoái, tích tụ chất thải và mầm bệnh, khiến các vụ nuôi sau càng thêm rủi ro. Chu trình này làm giảm hiệu quả kỹ thuật và đe dọa phát triển bền vững của toàn ngành.

III. Hướng dẫn đánh giá tính dễ bị tổn thương khi nuôi tôm Bến Tre

Để xây dựng chiến lược thích ứng BĐKH hiệu quả, việc đầu tiên là phải hiểu rõ mức độ rủi ro và điểm yếu của hệ thống. Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) là một khái niệm cốt lõi, giúp lượng hóa mức độ mà một hệ thống có thể bị tổn thương hoặc không có khả năng đối phó với tác động bất lợi của BĐKH. Nghiên cứu của Võ Thái Hiệp (2022) đã áp dụng khung phân tích của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) để đánh giá TDBTT cho các hộ nuôi tôm tại Bến Tre. Phương pháp này phân tích TDBTT dựa trên ba thành phần chính: Sự phơi lộ (Exposure), Sự nhạy cảm (Sensitivity), và Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity). Bằng cách xây dựng một bộ chỉ số chi tiết bao gồm 42 biến số, nghiên cứu đã tính toán được chỉ số TDBTT trung bình cho mô hình TSQCCT là 0,52 và TTCTTC là 0,54, cho thấy phần lớn các hộ nuôi tôm ở Bến Tre có TDBTT ở mức từ trung bình đến cao. Việc đánh giá này cung cấp một bức tranh toàn diện, giúp xác định các lĩnh vực cần ưu tiên can thiệp để giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu.

3.1. Phương pháp xác định mức độ phơi lộ Exposure của nông hộ

Sự phơi lộ đề cập đến mức độ mà hệ thống sản xuất (ao nuôi, cơ sở hạ tầng) tiếp xúc trực tiếp với các hiểm họa liên quan đến khí hậu. Để đánh giá chỉ số này, nghiên cứu đã xem xét các yếu tố như tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, hạn hán, mưa lớn), khoảng cách từ ao nuôi đến bờ biển, và mức độ thiệt hại kinh tế đã từng xảy ra trong quá khứ. Kết quả cho thấy các hộ nuôi tôm ở những vùng ven biển như Thạnh Phú, Ba Tri có chỉ số phơi lộ cao hơn do vị trí địa lý. Việc xác định mức độ phơi lộ giúp khoanh vùng các khu vực rủi ro cao, làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng nuôi và đầu tư vào các công trình hạ tầng bảo vệ như đê bao, cống điều tiết mặn.

3.2. Phân tích mức độ nhạy cảm Sensitivity của mô hình nuôi

Sự nhạy cảm phản ánh mức độ một hệ thống sẽ bị ảnh hưởng (dù là tiêu cực hay tích cực) bởi các tác nhân kích thích từ khí hậu. Một hệ thống có độ nhạy cảm cao sẽ chịu thiệt hại lớn hơn khi cùng tiếp xúc với một hiểm họa. Các chỉ số được sử dụng để đo lường sự nhạy cảm bao gồm: tỷ lệ thu nhập từ nuôi tôm trong tổng thu nhập hộ gia đình, sự phụ thuộc vào một nguồn nước duy nhất, mật độ dân số, và tình trạng sức khỏe của lao động. Ví dụ, một hộ gia đình có 100% thu nhập đến từ nuôi tôm sẽ nhạy cảm hơn một hộ có các nguồn sinh kế đa dạng. Việc phân tích này chỉ ra rằng cần thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế để giảm sự phụ thuộc và do đó giảm độ nhạy cảm của các nông hộ.

3.3. Cách xác định khả năng thích ứng Adaptive Capacity của người nuôi

Khả năng thích ứng là yếu tố quyết định khả năng của một hệ thống trong việc điều chỉnh để đối phó với các tác động của BĐKH, giảm thiểu thiệt hại và tận dụng các cơ hội. Đây là khía cạnh mà các chính sách có thể can thiệp hiệu quả nhất. Các yếu tố cấu thành khả năng thích ứng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, tiếp cận tín dụng, tham gia các tổ chức xã hội (hợp tác xã), tiếp cận thông tin khuyến nông và dự báo thời tiết, và sở hữu các tài sản vật chất. Nghiên cứu cho thấy các hộ có trình độ học vấn cao hơn, tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật và có khả năng vay vốn thường có khả năng thích ứng tốt hơn. Do đó, nâng cao năng lực cho người nông dân thông qua giáo dục, đào tạo và hỗ trợ tài chính là giải pháp then chốt để giảm tính dễ bị tổn thương.

IV. 04 Nhóm biện pháp thích ứng BĐKH cho người nuôi tôm Bến Tre

Đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, các hộ nuôi tôm tại Bến Tre đã chủ động áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ sản xuất và ổn định sinh kế. Nghiên cứu của Võ Thái Hiệp (2022) đã nhận diện và hệ thống hóa 14 biện pháp cụ thể mà nông hộ đang thực hiện. Các biện pháp này được phân thành 4 nhóm chính, phản ánh các chiến lược ứng phó đa dạng, từ điều chỉnh hoạt động canh tác hàng ngày đến các quyết định mang tính chiến lược dài hạn. Bốn nhóm biện pháp đó bao gồm: (1) Điều chỉnh lịch thời vụ, (2) Điều chỉnh kỹ thuật, (3) Đa dạng hóa sản xuất, và (4) Phòng ngừa rủi ro. Mặc dù cường độ áp dụng các biện pháp này của các hộ nuôi tôm chưa đồng đều, nhưng hiệu quả mà chúng mang lại được đánh giá khá cao. Việc phân tích sâu từng nhóm biện pháp giúp cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu, có thể nhân rộng để nâng cao khả năng thích ứng cho toàn cộng đồng, từ đó cải thiện hiệu quả nuôi tôm Bến Tre một cách bền vững.

4.1. Biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ nuôi tôm linh hoạt

Đây là một trong những biện pháp thích ứng phổ biến và ít tốn kém nhất. Thay vì tuân theo lịch thời vụ truyền thống, người nông dân dựa trên kinh nghiệm và thông tin dự báo thời tiết để điều chỉnh thời điểm thả giống và thu hoạch. Mục đích là để né tránh những giai đoạn có rủi ro cao nhất, chẳng hạn như mùa mưa bão, đợt nắng nóng gay gắt hoặc thời kỳ xâm nhập mặn đạt đỉnh. Ví dụ, một số hộ chọn cách thả giống sớm hơn để thu hoạch trước khi mùa mưa lũ đến. Việc điều chỉnh lịch thời vụ giúp giảm thiểu thiệt hại do sốc môi trường, cải thiện tỷ lệ sống của tôm. Kết quả phân tích cho thấy biện pháp này giúp làm tăng hiệu quả kỹ thuật của cả hai mô hình TSQCCT và TTCTTC.

4.2. Cải tiến kỹ thuật canh tác và quản lý ao nuôi hiện đại

Nhóm biện pháp này tập trung vào việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất để tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống. Các hoạt động cụ thể bao gồm: cải tạo và gia cố bờ ao để chống sạt lở, lắp đặt hệ thống quạt nước và sục khí để tăng cường oxy, sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý đáy ao và cải thiện chất lượng nước, lựa chọn con giống chất lượng cao có khả năng kháng bệnh và chịu được biến động môi trường. Đặc biệt, với mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh, việc áp dụng các kỹ thuật nuôi tôm tiên tiến này có tác động rất lớn, giúp tăng đáng kể cả hiệu quả kỹ thuậthiệu quả kinh tế.

4.3. Chiến lược đa dạng hóa sản xuất giúp giảm thiểu rủi ro

Đa dạng hóa sản xuất là chiến lược nhằm giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất, từ đó phân tán rủi ro. Thay vì chỉ chuyên canh con tôm, nhiều hộ đã áp dụng các mô hình xen canh hoặc luân canh. Ví dụ, nuôi xen tôm với các loài thủy sản khác có khả năng chịu mặn tốt hơn như cua, cá. Một số hộ khác kết hợp nuôi tôm với trồng lúa hoặc trồng dừa trên bờ ao. Chiến lược này không chỉ giúp tạo thêm nguồn thu nhập phụ, bù đắp cho những vụ tôm thất bát, mà còn có thể cải thiện môi trường ao nuôi. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng biện pháp này có thể làm giảm hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC, có thể do việc phân tán nguồn lực đầu tư.

4.4. Phương pháp phòng ngừa rủi ro tài chính và dịch bệnh

Nhóm biện pháp này mang tính phòng bị, giúp các hộ gia đình chuẩn bị và đối phó tốt hơn khi rủi ro xảy ra. Các hoạt động chính bao gồm: tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã để cùng nhau học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin và có tiếng nói chung; mua bảo hiểm nông nghiệp để được bồi thường khi có thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; và chủ động tiết kiệm, tích lũy vốn để có nguồn tài chính dự phòng. Việc tham gia các tổ chức xã hội cũng giúp nông dân dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ. Biện pháp phòng ngừa rủi ro được chứng minh là giúp tăng hiệu quả kỹ thuật cho cả hai mô hình nuôi tôm.

V. Phân tích hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của các mô hình nuôi tôm

Việc áp dụng các biện pháp thích ứng BĐKH có thực sự mang lại lợi ích hay không được thể hiện rõ nhất qua các chỉ số về hiệu quả sản xuất. Sử dụng mô hình hàm sản xuất biên và lợi nhuận biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas, nghiên cứu đã tiến hành đo lường và phân tích sâu về hiệu quả kỹ thuật (TE)hiệu quả kinh tế (EE) của các hộ nuôi tôm tại Bến Tre. Kết quả cho thấy, các mức hiệu quả này nhìn chung chưa cao, phản ánh những khó khăn và tiềm năng chưa được khai thác hết do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Cụ thể, khi tính dễ bị tổn thương do BĐKH tăng 1%, hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của nông hộ sẽ giảm tương ứng. Điều này khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa khả năng chống chịu với BĐKH và kết quả tài chính. Phân tích cũng chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp thích ứng có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả, cung cấp bằng chứng quan trọng để lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp cho từng mô hình nuôi.

5.1. So sánh hiệu quả kỹ thuật giữa mô hình TSQCCT và TTCTTC

Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng của một nông hộ trong việc đạt được sản lượng tối đa với một bộ các yếu tố đầu vào nhất định. Một hộ có TE bằng 100% nghĩa là đang sản xuất trên đường biên sản xuất, không thể tăng sản lượng nếu không tăng đầu vào. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của mô hình tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) là 57,38% và của mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) là 59,04%. Con số này có nghĩa là, với cùng một lượng đầu vào hiện tại, các hộ nuôi tôm vẫn có thể tăng năng suất lên khoảng 41-43% nếu khắc phục được các yếu tố phi hiệu quả, trong đó có các tác động từ BĐKH và trình độ quản lý kỹ thuật.

5.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế và lợi nhuận thực tế của nông hộ

Hiệu quả kinh tế là một chỉ số toàn diện hơn, không chỉ xem xét sản lượng tối đa mà còn tính đến việc lựa chọn các yếu tố đầu vào sao cho chi phí là thấp nhất để đạt được lợi nhuận tối đa. Kết quả phân tích cho thấy sự chênh lệch lớn giữa hai mô hình: hiệu quả kinh tế trung bình của mô hình TSQCCT đạt 70,51%, trong khi của mô hình TTCTTC chỉ là 30,94%. Mức hiệu quả kinh tế thấp của mô hình thâm canh cho thấy các hộ nuôi đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí thức ăn, con giống và xử lý môi trường trong điều kiện khí hậu biến động. Về lợi nhuận, mô hình TTCTTC mang lại lợi nhuận trung bình trên một hecta cao hơn nhiều (535,67 triệu đồng/ha/vụ) so với TSQCCT (58,24 triệu đồng/ha/năm), nhưng cũng đi kèm với rủi ro và chi phí lớn hơn.

5.3. Tác động của biện pháp thích ứng đến hiệu quả sản xuất tôm

Phân tích cho thấy, các nhóm biện pháp thích ứng BĐKH có tác động khác biệt lên hiệu quả của từng mô hình. Ví dụ, điều chỉnh lịch thời vụ làm tăng hiệu quả kỹ thuật ở cả hai mô hình, cho thấy đây là một biện pháp cơ bản và hữu ích. Điều chỉnh kỹ thuật có tác động mạnh mẽ nhất đến mô hình TTCTTC, giúp tăng cả hiệu quả kỹ thuật và kinh tế. Điều này hợp lý vì mô hình thâm canh đòi hỏi trình độ kỹ thuật và quản lý cao. Ngược lại, đa dạng hóa sản xuất lại làm giảm hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC. Cuối cùng, phòng ngừa rủi ro giúp tăng hiệu quả kỹ thuật cho cả hai mô hình và tăng hiệu quả kinh tế cho mô hình TTCTTC. Những kết quả này cung cấp gợi ý quan trọng cho việc khuyến nghị các biện pháp phù hợp.

VI. Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi tôm thích ứng BĐKH bền vững

Từ những phân tích về thực trạng, tính dễ bị tổn thương và hiệu quả sản xuất, nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao khả năng thích ứng BĐKH và cải thiện hiệu quả nuôi tôm Bến Tre. Các giải pháp này không chỉ nhắm đến đối tượng là các hộ nuôi tôm mà còn bao gồm vai trò của chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức xã hội. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một ngành nuôi tôm có khả năng chống chịu cao, hiệu quả về kinh tế và bền vững về môi trường. Các giải pháp được chia thành hai nhóm chính: nhóm giải pháp nâng cao khả năng thích ứng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất. Sự kết hợp hài hòa giữa hai nhóm giải pháp này sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành tôm Bến Tre trong bối cảnh khí hậu ngày càng khó lường. Đây là con đường tất yếu để bảo vệ nguồn lực sinh kế của người dân và đóng góp vào an ninh lương thực quốc gia.

6.1. Giải pháp toàn diện nâng cao khả năng thích ứng BĐKH

Để nâng cao khả năng thích ứng, cần tập trung vào việc cải thiện các nguồn vốn của nông hộ. Trước hết là nâng cao nhận thức về BĐKH thông qua các chương trình truyền thông, tập huấn để người dân hiểu rõ rủi ro và các biện pháp phòng tránh. Về mặt tài chính, cần có chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng ưu đãi, giúp nông dân có đủ vốn để đầu tư vào các kỹ thuật nuôi tôm tiên tiến và cơ sở hạ tầng. Cải thiện nguồn vốn xã hội cũng rất quan trọng, thông qua việc khuyến khích nông dân tham gia hợp tác xã để tăng cường liên kết, chia sẻ kinh nghiệm và bảo vệ lợi ích chung. Cuối cùng, các giải pháp phòng ngừa tác động của BĐKH như đầu tư xây dựng hệ thống đê bao, cống điều tiết mặn và phát triển hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm thiên tai là trách nhiệm của nhà nước, tạo ra một môi trường sản xuất an toàn hơn cho người dân.

6.2. Hướng đi tương lai cho ngành nuôi tôm bền vững tại Bến Tre

Hướng tới phát triển bền vững, ngành nuôi tôm Bến Tre cần có những bước đi chiến lược. Về mặt kỹ thuật, cần đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các mô hình nuôi tiên tiến, tiết kiệm nước, thân thiện với môi trường như công nghệ biofloc, RAS. Đồng thời, cần có các giải pháp đồng bộ để giảm chi phí sản xuất, chẳng hạn như tự chủ một phần nguồn giống chất lượng cao, tối ưu hóa công thức thức ăn và quản lý dịch bệnh tổng hợp (IPM) để giảm sử dụng hóa chất. Về mặt chính sách, chính quyền địa phương cần lồng ghép vấn đề thích ứng BĐKH vào các kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Việc xây dựng các chuỗi giá trị tôm bền vững, có chứng nhận và truy xuất nguồn gốc cũng sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và mở ra các thị trường xuất khẩu khó tính, đảm bảo đầu ra ổn định và lợi nhuận cao hơn cho người nuôi tôm.

29/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, một số nội dung chính được trình bày bao gồm: (i) tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; (ii) mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu; (iii) phạm vi nghiên cứu về đối tượng, không gian và thời gian; (iv) ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Tính cấp thiết của đề tài 1. Tính cấp thiết về mặt lý luận Biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động mạnh mẽ đến môi trường, kinh tế và xã hội của các quốc gia trên thế giới (World Bank, 2010). Sự gia tăng rủi ro từ BĐKH là một trong những áp lực làm tăng tính tổn thương đối với khu vực nông nghiệp - nơi có sức chống chịu kém.

Đánh giá tính dễ bị tổn thương (TDBTT) là một công cụ hữu ích trong việc lập kế hoạch nhằm tăng cường khả năng thích ứng, cải thiện quy trình ra quyết định trong hoạch định chính sách hoặc chương trình hành động. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương với các phương pháp khác nhau như phương pháp đánh giá tổn thương có sự tham gia (Chiwaka và Yates, 2005; Care, 2009), phương pháp xây dựng chỉ số tổn thương sinh kế (Hahn và ctv, 2009; Lamichhane, 2010; Derick và ctv, 2017), phương pháp xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương theo cách tiếp cận IPCC (Deressa và ctv, 2008; Yusuf và Francisco, 2009; Trần Duy Hiền, 2016) và một số phương pháp khác (Villagran, 2006; Alexander Feteke, 2009; Ibidun, 2010). Đa số các nghiên cứu được thực hiện ở quy mô khu vực như một xã, một huyện hay một quốc gia và so sánh TDBTT giữa các địa phương trong cùng một khu vực với nhau. Ngoài ra ở các quốc gia đang phát triển nơi mà phần lớn dân số vẫn sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp thì việc đánh giá TDBTT của nông hộ do BĐKH hiện nay là trọng tâm của chính sách nông nghiệp (Aulong và Kast, 2011).

Vì thế, đánh giá tính dễ bị tổn thương ở quy mô nông hộ là thực sự cần thiết. Theo Jiri và ctv (2015), TDBTT mỗi 2 nông hộ sẽ liên tục tăng lên nếu không có sự thích ứng phù hợp để giảm thiểu các tác động tiềm tàng của BĐKH. Cho nên để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đòi hỏi nông hộ phải thực hiện các biện pháp thích ứng một cách hữu ích (Adger và ctv, 2006). Việc thay đổi các biện pháp sản xuất để đối phó với BĐKH là cần thiết để duy trì và cải thiện năng suất nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng của người dân (Otitoju và Enete, 2014) và là chìa khóa ứng phó tốt cho những thiệt hại do BĐKH gây ra trong tương lai.

Một số nông dân có thể điều chỉnh và thích ứng tốt hơn so với những người khác tùy thuộc vào nhiều yếu tố như biện pháp quản lý nông nghiệp, quản lý đất đai, đặc điểm sản xuất và nhân khẩu học-xã hội (Mabe và cvt, 2014). Nhận diện các biện pháp thích ứng cho phù hợp với từng loại cây trồng/vật nuôi đồng thời phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng là cần thiết để tăng cường hiểu biết về hành vi thích ứng của nông hộ. Bên cạnh đó, BĐKH có nguy cơ làm giảm hiệu quả sản xuất của ngành nông nghiệp mà hậu quả của nó ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống canh tác bền vững, làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi (Aulong và Kast, 2011). Một số tác giả đã chứng minh rằng hiệu quả sản xuất của một số loại cây trồng, vật nuôi đạt thấp do ảnh hưởng của BĐKH (Makki và ctv, 2102; Nagothu và ctv, 2012; Cao Lệ Quyên và ctv, 2015; Tasnim và ctv, 2015; Trần Đại Nghĩa, 2015).

Điều này là do sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với môi trường tự nhiên và xã hội, do đó mức độ BĐKH có thể ảnh hưởng đến hệ thống nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố này. Như vậy, những nghiên cứu trước đây đã được tiến hành nhưng chỉ là những nghiên cứu riêng trong từng mảng cụ thể, trong các lĩnh vực khác nhau mà chưa thấy bức tranh tổng thể về bối cảnh dễ bị tổn thương, mức độ tổn thương và các biện pháp thích ứng tương ứng, cũng như ảnh hưởng của những biện pháp này đến hiệu quả sản xuất của nông hộ. Vì thế, một nghiên cứu đề cập đến các mối quan hệ này của nông hộ cho một loại cây trồng/vật nuôi cụ thể là cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào cơ sở lý thuyết và thực nghiệm cho vấn đề BĐKH đang diễn ra hết sức phức tạp, góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp.

Tính cấp thiết về mặt thực tiễn Việt Nam là một trong năm quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do biến đổi khí hậu, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long (Dasgupta và ctv, 2007; Nguyễn Mậu Dũng, 2010) và đặc biệt các tỉnh vùng ven biển (World Bank, 2010). Nuôi trồng thủy sản được xác nhận là ít đóng góp nhất vào việc thúc đẩy BĐKH của trái đất nhưng lại là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH (Nguyễn Ngọc Thanh và ctv, 2015). Nuôi trồng thủy sản là một trong những sinh kế quan trọng của cư dân ven biển ở Việt Nam, nhưng xếp thứ 27 trên 132 quốc gia trên thế giới về TDBTT do tác động của BĐKH (Alison và ctv, 2009). Trong khi đó, ngành nuôi tôm biển ở Việt Nam chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo cho hàng triệu người dân ven biển (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015) và là một trong 5 quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi (FAO, 2015).

Sản phẩm tôm của Việt Nam đã có mặt trên 99 quốc gia trên thế giới (như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, EU và Australia). Tôm thẻ chân trắng chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu các sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam (chiếm 68,7%), tôm sú chiếm 23% và tôm khác chiếm 8,3%. Diện tích nuôi tôm biển cả nước năm 2018 đạt 712,7 nghìn ha, tăng 1,4% so với năm trước. Sản lượng tôm sú cả năm 2018 ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 5,5% so với năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 10% (Tổng cục Thủy sản, 2018).

Tuy nhiên, những năm gần đây BĐKH đang ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái ven biển, trở thành nguy cơ đe dọa sự tăng trưởng của ngành nuôi tôm. Biến đổi khí hậu có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tôm nuôi thông qua nguồn nước, diện tích, môi trường nuôi, con giống và dịch bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. Cộng đồng người nuôi tôm ven biển quy mô nhỏ là một trong những đối tượng nhạy cảm nhất với BĐKH cả về mặt kinh tế, xã hội và năng lực thích ứng (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015). Nghiên cứu của Kam và ctv (2010) ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ ra rằng nếu không có giải pháp thích ứng, thu nhập của hộ nuôi tôm có thể giảm 130 triệu đồng/ha vào năm 2020 và 950 triệu đồng/ha năm 2050.

4 Bến Tre là một trong những tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với đường bờ biển dài 65 km tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong đó, nuôi tôm là một trong những ngành chủ lực của tỉnh tập trung ở 3 huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Văn Hiếu, 2013). Ngành nuôi tôm biển có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương với diện tích năm 2018 khoảng 35 nghìn ha, sản lượng khoảng 55.000 tấn, đứng thứ năm về diện tích và sản lượng cả nước. Tuy nhiên, Bến Tre cũng là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng (MORE, 2016), trong đó các huyện ven biển chịu nhiều thiệt hại nhất (Nguyễn Thị Kim Anh và ctv, 2013).

Ngành dễ bị tổn thương nhất là ngành nuôi trồng thủy sản, kế đến là lâm nghiệp và nông nghiệp. Sinh kế nuôi tôm biển được xếp hạng ở mức rủi ro trung bình cao do các áp lực từ các hoạt động phát triển và thay đổi khí hậu (Lê Anh Tuấn và ctv, 2012) và năng lực thích ứng của người nuôi tôm chỉ ở mức trung bình thấp (Lê Anh Tuấn và ctv, 2012; Lê Thị Kim Thoa, 2013). Các hộ nuôi tôm gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, con giống, thức ăn, thuốc, lao động, diện tích đất và các dịch vụ khuyến nông. Đặc biệt, trong những năm gần đây những hiện tượng BĐKH như nhiệt độ tăng, hạn hán, nước biển dâng, bão, mưa trái mùa, sạt lở, xâm nhập mặn đã tác động mạnh mẽ và làm giảm đáng kể hiệu quả nuôi tôm trên địa bàn.

Để ứng phó với những ảnh hưởng đó, chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều nỗ lực để phòng tránh và giảm nhẹ tác động của BĐKH đến các ngành sản xuất, trong đó có ngành nuôi tôm biển. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng được triển khai, một số hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng nuôi tôm về BĐKH cũng được chính quyền các cấp thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao, tổn thất về người, của cải, sản lượng hàng năm do thiên tai gây ra cho hộ nuôi tôm vẫn còn nghiêm trọng (UBND tỉnh Bến Tre, 2018). Những khó khăn và trở ngại nêu trên là nguyên nhân quan trọng làm cho hiệu quả của các hộ nuôi tôm đạt được chưa cao.

Để hạn chế một cách thấp nhất các tác động bất lợi do BĐKH gây ra, điều quan trọng là cần đánh giá tính dễ bị tổn thương, các biện pháp thích ứng và hiệu quả sản 5 xuất của hộ nuôi tôm trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, đề tài “Phân tích biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả nuôi tôm biển nông hộ tại tỉnh Bến Tre” được chọn để thực hiện. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những kiến thức và sự hiểu biết ở cấp độ vi mô về bức tranh tổng quát ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động của hộ nuôi tôm và là cơ sở quan trọng cho chính quyền địa phương thiết kế các chính sách hỗ trợ cho ngành nuôi tôm phát triển, góp phần giúp hộ nuôi tôm hạn chế những trở ngại do biến đổi khí hậu gây ra. Mục tiêu nghiên cứu 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ