CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 1. Một số vấn đề lý luận về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ 1. Hình phạt cải tạo không giam giữ và Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ 1. Hình phạt cải tạo không giam giữ Cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt được quy định trong BLHS.
Theo đó, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định 1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc 10 biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự [21, Điều 36]. Như vậy, để được áp dụng hình phạt cải tạo không giữ, người bị kết án phải đáp ứng được các điều kiện sau: (1) Người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng; (2) Người phạm tội phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng; (3) Xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 100, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng [21, Điều 100].
11 Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai (1/2) thời hạn mà điều luật quy định [6, tr. Nghĩa vụ của người bị kết án: Theo khoản 3 Điều 36 BLHS, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ nhà nước. Cụ thể, theo Điều 99 Luật Thi hành án hình sự 2019, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải chấp hành nghiêm cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục… Đặc biệt, người bị kết án về hình phạt này còn phải chịu nghĩa vụ là khấu trừ một phần thu nhập.
Theo quy định hiện nay, người bị kết án phải khấu trừ một phần thu nhập từ 5%-20% để sung vào công quỹ. Tuy nhiên, trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Đặc điểm, khái niệm thi hành án phạt cải tạo không giam giữ Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú, hoặc nơi làm việc, học tập, khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [23, Điều 3]. Việc thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là không cách ly người bị kết án khỏi xã hội, tuy nhiên cần phân biệt hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù cho hưởng án treo và giữa thi hành án treo với thi hành án 12 phạt cải tạo không giam giữ.
Tác giả rút ra nhận xét về đặc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ như sau: Thứ nhất: Bản chất của hình phạt vẫn là hạn chế tự do thể hiện ở việc người bị kết án dù được cải tạo, giáo dục tại địa phương hoặc cơ quan nơi làm việc nhưng bản thân người bị kết án luôn biết rằng mọi việc làm của họ đều bị theo dõi, giám sát hoàn toàn không được tự do như bình thường và khi đi ra khỏi địa phương nơi cư trú vẫn phải trình diện xin phép, cam kết và phải có sự đồng ý của chính quyền địa phương. Thứ hai: Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, nghiêm khắc nhất trong số các hình phạt không phải tù, nhẹ hơn hình phạt tù, nặng hơn hình phạt tiền và cảnh cáo. Tòa án có thể lựa chọn và áp dụng đối với các trường hợp phạm tội mà nếu áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc hình phạt tiền thì chưa đủ để trừng trị răn đe người phạm tội, răn đe người khác nhưng cũng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù – hình phạt mà tính trừng trị nghiêm khắc hơn. Là hình phạt chính nên khi Tòa án áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đồng thời có thể tuyên hình phạt bổ sung kèm theo.
Thứ ba: Cải tạo không giam giữ có nội dung, điều kiện, giới hạn áp dụng cụ thể riêng so với các hình phạt khác. Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quy nhà nước hoặc phải lao động công ích phục vụ cộng đồng. Hiện nay đang có quan điểm cho rằng nên bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS vì cho rằng các điều kiện áp dụng, tổ chức thì hành án phạt cải tạo không giam giữ và án phạt tù cho hưởng án treo có nhiều điểm giống nhau dẫn đến trùng lặp và nhầm lẫn như sau: - Về điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và cho hưởng 13 án treo đều phải là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi xã hội thì Toà án cho họ được hưởng án phạt cải tạo không giam giữ và hưởng án treo. - Về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ và thi hành án treo đều cho người bị kết án được cải tạo, giáo dục ở ngoài xã hội, ở cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống, làm việc mà không bị bắt buộc tập trung cải tạo ở các trại giam.
Tuy nhiên, trên thực tế thì không thể bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, bởi vì về bản chất người bị phạt tù cho hưởng án treo là người phạt tù có thời hạn và nghiêm khắc hơn so với so với hình phạt cải tạo không giam giữ. Tính nghiêm khắc hơn đó thể hiện ở điều kiện cho hưởng án treo chặt chẽ hơn: căn cứ vào thân nhân người phạm tội và căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ; còn ở hình phạt cải tạo không giam giữ không quy định bắt buộc căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, chỉ cần có điều kiện: đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cân thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Bản chất của án treo là tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Tức là trong thời gian thử thách hình phạt tù do Toà án đã tuyên trong bản án đó vẫn đang tồn tại và sẵn sàng áp dụng ngay nếu các điều kiện tạm miễn chấp hành hình phạt tù bị mất đi.
Hơn nữa, thi hành án phạt cải tạo không giam giữ phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với đường lối, chính sách xử lý tội phạm trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và chủ trương của Bộ chính trị tại Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp: “Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm” [3]. Và hơn nữa, về bản chất hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính còn án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Từ những phân tích thi hành án phạt cải tạo không giam giữ cho phép 14 chỉ ra một số đặc điểm của thi hành án phạt cải tạo không giam giữ như sau: Thứ nhất, thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, nhà nước có thẩm quyền, giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú, làm việc, học tập.