Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý nguồn nhân lực là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý viên chức nói chung và viên chức khoa học, công nghệ nói riêng lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Liên quan đến đề tài luận án, có thể kể tới những công trình nghiên cứu đã được công bố sau: Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập tới vấn đề quản lý nguồn nhân lực.
Dưới góc độ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, Christian Batal trong cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” (Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2 tập, năm 2002) đã trình bày cơ sở lý thuyết và đưa ra các phương pháp tổ chức điều hành hiện đại để điều hành nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy cải cách, đổi mới nền hành chính của các quốc gia. John W Boudreau trong tác phẩm “Quản trị nguồn nhân lực” (Nxb Thống kê, năm 2005) đưa ra một loạt các vấn đề về quản lý nguồn nhân lực như: phương pháp chuẩn đoán trong quản lý nguồn nhân lực; những điều kiện bên ngoài tác động đến quản lý nhân sự; những điều kiện tổ chức; các đặc điểm của công nhân viên; lập kế hoạch và đánh giá; chiêu mộ từ bên ngoài; tuyển chọn công nhân viên từ bên ngoài… Đây là những mắt xích quan trọng trong công tác quản lý nhân sự không chỉ bổ ích với các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quản lý đội ngũ viên chức trong khu vực nhà nước nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Đánh giá về những nguyên nhân yếu kém trong hoạt động quản trị nhân lực tại các doanh nghiệp hiện nay, Business Edge, trong tác phẩm “Bản chất quản trị nguồn nhân lực - gây dựng đội quân tinh nhuệ” (Nxb Trẻ, năm 2007) đã chỉ ra đó là: chủ doanh nghiệp chưa hiểu đúng hoặc hiểu không đầy đủ về vai trò và các chức 8 năng của quản trị nhân lực; chủ doanh nghiệp thiếu các công cụ cần thiết để xác định các vấn đề thuộc quản trị nhân lực và tìm kiếm giải pháp khắc phục. Tác giả đưa ra các giải pháp để giải quyết hai vấn đề trên bằng các chiến lược gây dựng và “bảo toàn” đội quân tinh nhuệ - đội ngũ nhân viên có năng lực, nhiệt tình và cam kết gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, những người cùng nghĩ và cùng làm với chủ doanh nghiệp để đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp (Business Edge, 2007).
Cuốn sách Institution, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University press,1990 “Thể chế, thay đổi thể chế và hiệu suất kinh tế” của Douglass C.North, Giám đốc của Trung tâm kinh tế chính trị, đồng thời là Giáo sư Kinh tế và Lịch sử tại Đại học Washington ở St Louis đã phát triển một khung phân tích để giải thích cách thức mà các tổ chức thay đổi thể chế tác động đến hiệu suất của nền kinh tế trong một thời gian nhất định và trong cả quá trình tồn tại và phát triển tổ chức. Cuốn sách chủ yếu đề cập đến tổ chức, bản chất của các tổ chức và giải thích vai trò của các hoạt động của tổ chức trong sự phát triển của nó; vấn đề thay đổi thể chế; các tổ chức sẽ được tận dụng lợi thế khi thể chế thay đổi, tác giả lập luận rằng các loại kỹ năng và kiến thức nuôi dưỡng bởi cấu trúc của một nền kinh tế sẽ định hướng thay đổi và dần dần làm thay đổi khuôn khổ thể chế. Sau cùng, tác giả giải thích làm thế nào thay đổi thể chế có thể tạo ra các cơ chế khuyến khích để tổ chức phát triển. Trong phần cuối cùng của cuốn sách, ông giải thích ý nghĩa của phân tích này cho lý thuyết kinh tế và lịch sử kinh tế.
Trong cuốn sách Managing Human Resources, Cornell University, 2007, “Quản lý nguồn nhân lực” của 2 tác giả George Bohlander, Giáo sư danh dự Quản lý tại Đại học bang Arizona và Scott Snell, Giáo sư, đồng thời là Giám đốc điều hành Giáo dục của Đại học Cornell, cuốn sách gồm 832 trang, được chia thành 6 chủ đề, mỗi chủ đề nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của quản trị nguồn nhân lực, như quản trị tài năng con người hay vốn nhân lực, đáp ứng nhu cầu thị trường về nhân lực; những trách nhiệm, năng lực của nhà quản trị nhân lực; kết nối nhu cầu cá nhân và nhu cầu của nhà tổ chức; xác định các cơ hội sự nghiệp và những yêu 9 cầu cho sự nghiệp; phát triển năng lực và kỹ năng làm việc cá nhân; đánh giá và cải thiện kết quả thực hiện công việc, trong đó đề cập rất cụ thể các phương pháp đánh giá như phương pháp tiếp cận từ đặc tính cá nhân, phương pháp đánh giá dựa trên hành vi, phương pháp hướng vào kết quả cuối cùng, đồng thời các tác giả cũng đưa ra cách thức lựa chọn phương pháp đánh giá kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng được các tác giả nghiên cứu và phân tích cụ thể, như nội dung của các chương trình đào tạo, đánh giá và theo dõi phát triển sự nghiệp, quản lý cá nhân và đời sống gia đình. Những vấn đề nhiều nhà tổ chức, nhà quản lý quan tâm cũng được tìm thấy trong cuốn sách bổ ích này, đó là thù lao đối với nhân viên và thù lao cho nhà quản lý… Đặc biệt, cuốn sách còn đề cập đến chủ đề rộng hơn đó là quản trị nhân lực quốc tế, như vấn đề ảnh hưởng môi trường toàn cầu đến việc quản lý, tuyển mộ nhân viên quốc tế và tuyển chọn nhà quản lý toàn cầu. “The use of labor and employment in the public sector expansion - Province of British Columbia” “Người sử dụng lao động và việc làm trong khu vực công mở rộng - Tỉnh bang British Columbia” của học giả Anne Richmond, một chuyên gia đến từ Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách (PIAP) của Canada, trình bày tại Hội thảo khoa học “Pháp luật về viên chức” do Ủy ban pháp luật của Quốc hội và Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách (PIAP) phối hợp tổ chức tại Huế trong hai ngày 11-12/03/2010, đã đem đến những kinh nghiệm quản lý viên chức trong khu vực công (Chính phủ và người sử dụng lao động của Chính phủ) và khu vực công mở rộng (y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội) ở Canada; trường hợp cụ thể là tỉnh Ontario và British Columbia.
Bài nghiên cứu cho thấy ở Canada, địa vị của một nhân viên với tư cách là nhân viên khu vực công hoặc nhân viên ở khu vực tư nhân được xác định bởi địa vị của tổ chức mà họ làm việc. Không có giới hạn hay hạn chế về loại hình tổ chức mà một người có thể làm việc cho, và việc chuyển từ khu vực này sang khu vực khác trong cuộc đời sự nghiệp là việc bình thường xảy ra. Thực tế, Khu vực công mở rộng ở Canada (y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội) thuộc phần lớn thẩm quyền của tỉnh bang; Canada sử dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau để định 10 nghĩa khu vực công mở rộng và thiết lập khung quan hệ việc làm và nghĩa vụ, quan niệm các tổ chức là một phần của khu vực công chứ không định nghĩa con người (như ở Việt Nam); Thỏa ước lao động tập thể được thiết lập giữa công đoàn và người sử dụng lao động là một phần quan trọng của quan hệ việc làm (quyền và mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với công đoàn, khiếu nại và trọng tài, sa thải đình chỉ, thời gian làm việc, tiêu chuẩn nghỉ chế độ, lương và phúc lợi khác…) trong khu vực công mở rộng ở Canada (ở Việt Nam hợp đồng lao động thường được kí giữa cá nhân và người sử dụng lao động nên thiếu tính khách quan, thường là người lao động không nắm rõ pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho bản thân) … tham luận này chính là những gợi ý cho Việt Nam trong quá trình hình thành và hoàn thiện các văn bản pháp luật về viên chức. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta không tách rời vấn đề phát triển con người, phát huy nguồn trí và lực, đặc biệt là đội ngũ viên chức khoa học, công nghệ.
Vì thế, vấn đề phát triển khoa học và công nghệ, phát huy nguồn nhân lực khoa học, công nghệ từ lâu đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và đạt được nhiều thành quả đáng quý. Về mặt pháp lý, việc nghiên cứu thực tiễn vấn đề quản lý khoa học và công nghệ luôn gắn liền với quá trình hình thành, hoàn thiện các chính sách pháp luật. Ở đây luận án xin điểm các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề quản lý nhân lực, quản lý và phát triển đội ngũ trí thức khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời đại hiện nay; đồng thời khái quát quá trình cải cách, dần hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này: 1. Về khái niệm nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, khái niệm viên chức: một số công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích sâu các khái niệm con người, nguồn lực con người, phát triển con người, phát triển nhân lực con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng ta 11 (Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, TS.
Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành nguồn nhân lực xã hội với những nội dung cơ bản của dân số, các chỉ tiêu dân số, xu hướng phát triển dân số trên thế giới và ở Việt Nam, các chính sách dân số, quản lý nhà nước về dân số. Từ đó tác giả đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội, những đặc điểm chủ yếu của nhân lực Việt Nam; khái niệm phát triển nguồn nhân lực, các hình thức phát triển nhân lực, chính sách và quản lý sự phát triển nguồn nhân lực.