Khóa luận tốt nghiệp luật học thẩm quyền sơ thẩm của toà án trong giải quyết tranh chấp đất đai

Khóa luận phân tích thẩm quyền sơ thẩm của tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai, làm rõ quy trình và vai trò trong hệ thống tư pháp.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của thẩm quyền sơ thẩm trong tranh chấp đất đai

Thẩm quyền sơ thẩm của tòa án là quyền và trách nhiệm của các tòa án trong việc giải quyết lần đầu tiên các vụ tranh chấp đất đai. Đây là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tố tụng dân sự Việt Nam, được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Tranh chấp đất đai là những mâu thuẫn phát sinh giữa các bên liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu bất động sản và các vấn đề liên quan. Ý nghĩa của thẩm quyền sơ thẩm thể hiện ở nhiều khía cạnh: bảo đảm quyền con người, quyền tư do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đảm bảo công bằng xã hội; và củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của tòa án.

1.1. Định nghĩa thẩm quyền sơ thẩm

Thẩm quyền sơ thẩm là khả năng pháp lý của tòa án được luật định để giải quyết lần đầu tiên các vụ tranh chấp đất đai. Nó được xác định dựa trên yếu tố địa bàn, loại vụ việc và giá trị tranh chấp. Tòa án có thẩm quyền sơ thẩm phải thực hiện đúng thẩm quyền của mình và ra các quyết định tố tụng chính xác, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của quyết định xét xử.

1.2. Ý nghĩa pháp lý và xã hội

Việc xác định đúng thẩm quyền sơ thẩm của tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai có ý nghĩa quan trọng về pháp lý bảo đảm các tòa án thực hiện đúng chức năng. Về xã hội, nó góp phần bảo vệ quyền lợi của công dân, đảm bảo công bằng trong giải quyết tranh chấp, và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp.

II. Quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền sơ thẩm

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định thẩm quyền sơ thẩm của tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai chủ yếu thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Đất đai. Theo đó, tòa án nhân dân cấp huyệnthẩm quyền sơ thẩm giải quyết phần lớn các vụ tranh chấp đất đai trong phạm vi địa bàn. Tòa án nhân dân cấp tỉnhthẩm quyền sơ thẩm đối với những vụ việc phức tạp hoặc liên quan đến nhiều địa phương. Quy định về thẩm quyền sơ thẩm được xác định dựa trên tiêu chí địa bàn, loại tranh chấp và giá trị tranh chấp, đảm bảo mỗi tòa án xử lý các vụ việc phù hợp với năng lực của mình.

2.1. Thẩm quyền sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền sơ thẩm chính trong giải quyết tranh chấp đất đai. Chúng xử lý các vụ tranh chấp đơn giản, giá trị nhỏ hoặc trung bình trong phạm vi địa bàn huyện. Các vụ liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu bất động sản phần lớn được tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

2.2. Thẩm quyền sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp tỉnh

Tòa án nhân dân cấp tỉnhthẩm quyền sơ thẩm đối với các vụ tranh chấp đất đai phức tạp, có giá trị tranh chấp lớn hoặc liên quan đến nhiều địa phương. Thẩm quyền sơ thẩm này được xác định theo quy định cụ thể về loại vụ việc, giá trị và tính chất của tranh chấp để đảm bảo giải quyết công bằng và hiệu quả.

III. Đặc điểm và cơ sở khoa học của thẩm quyền sơ thẩm

Thẩm quyền sơ thẩm của tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai có những đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, tính xác định pháp luật - thẩm quyền sơ thẩm được quy định rõ ràng trong luật, không do tòa án tùy ý xác định. Thứ hai, tính phân tầng - được chia theo cấp, địa bàn và loại vụ việc. Thứ ba, tính bắt buộc - tòa án phải tuân thủ thẩm quyền sơ thẩm được giao. Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định về thẩm quyền sơ thẩm dựa trên nguyên tắc hiệu quả, công bằng, bảo vệ quyền con người và xây dựng nhà nước pháp quyền. Nó cũng phản ánh yêu cầu của nền kinh tế thị trường và quản lý nhà nước hiện đại.

3.1. Đặc điểm của thẩm quyền sơ thẩm

Thẩm quyền sơ thẩm có tính xác định pháp luật rõ ràng, không thể thay đổi tùy ý. Tính phân tầng theo địa bàn và loại tranh chấp đất đai giúp phân bổ công việc hợp lý. Tính bắt buộc đảm bảo tòa án tuân thủ quy định pháp luật. Những đặc điểm này tạo nên hệ thống thẩm quyền sơ thẩm hiệu quả và công bằng.

3.2. Cơ sở khoa học và lý thuyết

Cơ sở khoa học của quy định về thẩm quyền sơ thẩm xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền con người, đảm bảo công bằng pháp lý, và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Nó phản ánh nguyên tắc phân quyền và chuyên môn hóa trong hệ thống tòa án, giúp giải quyết tranh chấp đất đai một cách hiệu quả và công bằng nhất.

IV. Những vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Thực tiễn thực hiện thẩm quyền sơ thẩm của tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện còn nhiều hạn chế. Quy định pháp luật chưa đầy đủ và rõ ràng, đặc biệt khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xem xét hủy quyết định cá biệt chưa thực sự hợp lý. Điều này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ việc và gây ra sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật. Nguyên nhân tồn tại của những vướng mắc bao gồm: thiếu sót trong lập pháp, sự phức tạp của các tranh chấp đất đai hiện đại, và khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn. Kiến nghị cần hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện thông qua tập huấn, hướng dẫn, và rà soát các quy định không còn phù hợp.

4.1. Những vướng mắc trong thực tiễn

Pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về thẩm quyền sơ thẩm trong các trường hợp phức tạp. Có sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các tòa án. Quy định về tranh chấp đất đai liên quan đến quyết định cá biệt còn mờ nhạt. Những vướng mắc này ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai và lòng tin của người dân.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả

Cần hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm để rõ ràng, cụ thể và bao quát. Tăng cường tập huấn, hướng dẫn áp dụng pháp luật cho tòa án. Rà soát và sửa đổi các quy định lạc hậu không phù hợp. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả và công bằng trong giải quyết tranh chấp đất đai.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THÂM QUYEN SƠ THÂM CUA TOA AN TRONG GIAI QUYET TRANH CHAP DAT DAI 1. KHÁI NIỆM THAM QUYEN SƠ THAM CUA TOA AN TRONG GIẢI QUYET TRANH CHAP DAT DAI Tại Việt Nam, đất dai là một loại tài san đặc biệt, thuộc sé hữu toàn dân do Nha nước đại điện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao QSDĐ cho người sử dụng đất theo quy định của LDD. Việc sử dung đất là van đề thường hay phát sinh tranh chap trên thực tế.

Do đó, việc xác định và nhận diện bản chất pháp lý của TCDD sẽ là tiền đề cho việc xác định thẩm quyền giải quyết TCĐĐ. Theo Từ điển Tiếng Việt thông đụng “Tranh chap” là bat đồng, trái ngược nhau!. Theo từ điển Hán Việt, “Tranh chấp là cãi nhau, dành nhau ”2. Từ dién Luật học Black định nghĩa: “Tranh chấp được hiểu là mâu thuẫn hay bat đồng về các yêu cầu hay quyền lợi giữa các bên; sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi của một bên bị đúp lại bởi một yêu cau hay lập luận trái ngược từ bên kia ””.

Theo giáo trình LDD của Trường Dai học Luật Hà Nội : “TCDD là sự bat đồng, mâu thuận hay xung đột về lợi ích, về quyên và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp LĐĐ”'. Có thể thấy, từ các quan niệm nêu trên, TCDD được hiểu là những biểu hiện của sự mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Khi các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ, việc xảy ra tranh chấp là yếu tố khách quan, mang tính quy luật, bởi trong thực tế con người vốn là một thực thé không hoàn hảo nên khi đặt chung vào cùng một mỗi quan hệ thì vấn đề nảy sinh mâu thuẫn là lẽ thường tình, không thé tránh khỏi. Montesquieu nhận định về điều này từ năm 1748 rằng: “Con người, như một thực thể vật hi, cũng bị các quy luật bat biến cai trị, giống như mọi vật thể khác.

Nhưng con người, là một thực thể có trí tuệ, lai không ngừng vi phạm các luật do Thượng dé quy định, và thay đổi ngay cả các luật do chính mình quy định ra. Con người phải tự dan dat lấy mình, nhưng ho lại bị hạn chế, hay phạm điều dỗt nát và lam lần như tat cả các trí tuệ hữu hạn, có khi họ đánh mat cả những kiến thức don sơ của mình ””. 1 Nguyễn Như Ý (2001), Ti điển Tiếng Việt thông dung, Nxb.Giáo dục, Hà Nội. ? Đào Duy Anh (1957), Han Việt từ điển, Nxb.Trường Thi-Sai Gòn, tr.

3 Từ điển Luật học Black (Black’s Law Dictionary) năm 1991, tr. 327 * Trường Dai học Luật Hà Nội (2021), Giáo rình LDD, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 2 Motesquieu (1996), Tinh than pháp luật, Nxb.Giáo dục, Ha Nội, 1996,tr.

7 Hon thé nữa, tuy LDD không đưa ra định nghĩa có tính pháp lý về đất đai, nhưng nhìn chung đất đai giữ một vai trò rất quan trọng với con người. Dat đai là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, đất là đối tượng lao động, đồng thời cũng là sản phâm của lao động. Dat đai là không gian cho sự sống của con người và các loài động, thực vật, do đó cũng là mặt bằng cho các hoạt động kinh tế quốc dan.Mác (1818-1883) khang định: “Đát dai là tài sản mãi mãi với loại người, là điêu kiện để sinh tôn, là điều kiện không thể thiếu được dé sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp ”5. Với vai trò quan trọng như trên, cũng như do những tính chất đặc biệt của đất đai, trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai trở nên phong phú hơn rất nhiều.

QSDD được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai. Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hóa và là một hàng hóa đặc biệt. Do đó, các TCDD ngày càng phổ biến hơn. Cần phân biệt “Tranh chấp đất đai” và “tranh chap QSDĐ”.

LDD năm 1987 và LDD năm 1993 đều dùng thuật ngữ “anh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền với dat”, tuy nhiên không có phần giải thích thuật ngữ. Do đó, khoản 7 Điều 24 BLTTDS năm 2004 quy định: Tranh chấp về QSDĐ, về tài sản gan liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai là một trong những tranh chấp thuộc thâm quyền giải quyết của TA theo thủ tục tố tụng dân sự. LDD năm 2003, LDD năm 2013 và LDD năm 2024 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp QSDD” ma sử dụng thuật ngữ “TCDD”. Vì vậy, khoản 9 Điều 26 BLTTDS năm 2015 quy định: ”7CĐĐ theo quy định của pháp luật về đất dai” là một trong các tranh chấp thuộc thâm quyền giải quyết của TA theo thủ tục tố tụng dân sự.

Theo đó, “TCDD là tranh chấp về quyển và nghĩa vụ của người sử dung đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất dai’””. Trước Hiến pháp năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận ba hình thức sở hữu về đất đai: Sở hữu toàn dân, sở hữu hợp tác xã và sở hữu tư nhân về dat đaiŠ. Như vậy ở giai đoạn này TCDD bao gồm cả tranh chấp về quyền sở hữu đất đai. Theo Hiến pháp năm 1980 đến nay thì Nhà nước ta chỉ thừa nhận hình thức sở hữu duy nhất về đất đai là sở hữu toàn dân về đất đai, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.

Do đó, TCDD không phải là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà là tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức về quan hệ sử dụng đất đai. Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định: “Dat dai, tai nguyên nước. là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và thong nhất quan bp”. Điều 54 Hiễn pháp 2013 quy định: “76 chức, cả nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ.

Người sử dung đất được chuyển QSDĐ, thực hiện 5 C.Mác, Angghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H. 7 Khoản 26 Điều 4 LDD năm 2003, khoản 24 Điều 3 LDD năm 2013, khoản 47 Điều 3 LDD năm 2024. 8 Xem Điều 12 Hiến pháp 1946, Điều 14, 20 Hiến pháp 1959. § các quyên và nghĩa vụ theo quy định của luật.

QSDĐ được pháp luật bảo hộ”. Trên cơ sở đó, khoản 47 Điều 3 LĐĐ 2024, đưa ra định nghĩa: “TCDP la tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ dat dai”. Theo quy định tại Điều 235 LDD 2024 quy định TCDD đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: "TCDD mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giáy chứng nhận QSDĐ, Giấy chứng nhận quyên sở hữu nhà ở và QSDĐ ở, Gidy chứng nhận quyên sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyên sở hữu công trình xây dựng, Gidy chứng nhận QSDĐ, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất, Gidy chứng nhận QSDĐ, quyển sở hữu tài sản gắn liên với đất hoặc có một trong các loại giấy to quy định tại Điều 137 của Luật này và tranh chấp về tai sản gan liền với đất thì do TA giải quyết ”°. Như vậy, TCDD bao hàm cả tranh chap giữa các cá nhân, tổ chức có QSDĐ với nhau hoặc tranh chấp giữa cá nhân, tô chức có QSDD với cơ quan quản ly Nhà nước về đất đai.

Do đó, đưới góc độ quy định của pháp luật thì TCDD có thé xảy ra hai trường hợp: (i) Tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân có QSDĐ với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ( UBND) về van dé cấp giấy chứng nhận QSDĐ (trình tự, thú tục, đối tượng, diện tích được cấp giấy chứng nhận QSDD), thu hồi QSDĐ, đền bù, giải phóng mặt bằng, địa giới hành chính. đây là tranh chấp hành chính. Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính thì tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có QSDĐ với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai là quan hệ hành chính nên nếu cơ quan quan ly Nhà nước giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, họ có quyền khởi kiện đến TA theo thủ tục tố tụng hành chính. Gi) Tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân với nhau về QSDĐ.

Pham vi khóa luận sẽ tiếp cận theo trường hợp này đó là tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân với nhau về QSD1Đ. Hiện nay, TCDD được hiểu theo hai nghĩa bao gồm TCDD theo nghĩa hẹp và TCDD theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, căn cứ khoản 47 Điều 3 LDD năm 2024: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ dat đai”. Như vậy, TCDD là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất hay nói cụ thé đó là tranh chấp về nội dung ai là người có quyền sử dung đất.

Theo nghĩa rộng, TCDD là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất dai, bao gồm: Tranh chấp về QSDĐ (Ai là người có QSDĐ?), tranh chấp về thừa kế QSDD, tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ, tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn hoặc sau ly hôn là QSDĐ. Về nghĩa rộng, tranh chấp ° Bùi Thị Huyền (2024), Thủ tục sơ thẩm dan sự giải quyết TCDD tại Toà án nhân đân, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. ai là người có quyền sử dung đất đương nhiên là TCDD. Còn các tranh chấp còn lại mặc đù có liên quan đến một số ngành luật nhất định như Luật Dân sự, Luật hôn nhân và gia đình nhưng trong quan hệ tranh chấp vẫn cần xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thé trong việc sử dụng đất nên nó là TCDD.

Trong khóa luận nay, tác giả tiếp cận TCDD theo nghĩa rộng: TCDD là mâu thuẫn, xung đột phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân do TA giải quyết theo thủ tục tố tụng đân sự để xác định ai là người có QSDĐ hoặc tranh chấp về thừa kế QSDĐ, tranh chấp về giao dich dân sự liên quan đến QSDD, tranh chấp chia tai sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn hoặc sau ly hôn là QSDD. Theo từ điển Tiếng Việt, thảm quyền được hiểu là “quyén xem xét để kết luận và định đoạt một vấn dé theo pháp luật”?.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ