CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về phát triển KCHTGTĐB với các loại hình cụ thể như đường quốc lộ, đường cao tốc, đường đô thị, giao thông nông thôn. Phát triển mạng lưới đường bộ thuộc về vai trò, chức năng của nhà nước.
Khi có sự tham gia của tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này thì hai loại đường bộ chủ yếu thu hút được vốn tư nhân là đường cao tốc và đường đô thị. Đây cũng là hai loại đường bộ hiện đại mà nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao. Người tham gia giao thông sẵn sàng trả phí để được sử dụng những con đường tốt, hiện đại. Đối với các nước phát triển, hệ thống đường bộ đô thị luôn được ưu tiên đầu tư rất lớn do vị trí quan trọng của loại hình giao thông này.
Đầu tư phát triển KCHTGTĐB đô thị luôn hướng tới phát triển bền vững. Theo tác giả Pojani. G (2008) [124] hầu hết các nước châu Âu xây dựng hệ thống GTVT công cộng đường bộ đô thị theo hướng đồng bộ, liên kết, thông suốt và nhằm phục vụ cho mọi đối tượng bao gồm cả người khuyết tật, người cao tuổi. Những tiêu chí này cũng được Nhật Bản rất chú ý khi xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng GTVT nói chung trong đó có KCHTGTĐB.
Các quốc gia ngày càng chú ý phát triển đường cao tốc bởi những lợi ích mà nó mang lại đối với phát triển kinh tế - xã hội. Một số tài liệu nghiên cứu về vai trò, lợi ích đường cao tốc đã xuất hiện từ khoảng những năm 60 của thế kỷ trước., và Harwitz, M (1962) [107] đã chỉ ra lợi ích to lớn của đường cao tốc đối với phát triển kinh tế xã hội. Hội đồng nghiên cứu Cao tốc bang Virginia nghiên cứu đầy đủ hơn về những lợi ích, giá trị của phát triển đường cao tốc trong tài liệu “The nature and measurement of highway benefits: an analytical framework” (1965). Các nghiên cứu này đều cho rằng việc khai thác sử dụng đường cao tốc, bảo trì, nâng cấp mang lại lợi ích lớn cho các vùng, miền trong một quốc gia.
Các giá trị sử dụng do hệ thống cao tốc mang lại như nâng cao giá trị đất, tiện lợi trong giao thông, phát triển liên kết vùng. Kể từ những năm 1980, thêm nhiều công trình nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết của đường bộ cao tốc trong nền kinh tế. A (1994) [118] đề cao vai trò của phát triển đường cao tốc, coi đây như là phương tiện phát triển kinh tế. Cụ thể hơn, Boarnet.G (1995) [94] đã phân tích mối quan hệ giữa phát triển đường cao tốc với sản lượng kinh tế.
Ngân hàng Phát triển châu Á là ngân hàng có mối quan 11 hệ trực tiếp đến dự án phát triển đường cao tốc ở Việt Nam, trong tài liệu “Viet Nam: Expessway Network development Plan” (2007) tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của hệ thống đường cao tốc và chỉ ra yêu cầu cấp thiết phát triển đường cao tốc ở Việt Nam. Hiện nay phát triển đường bộ cao tốc là xu thế phát triển tất yếu không chỉ tại các nước phát triển mà cả ở các nước đang phát triển. Đường cao tốc là một trong những chìa khóa quan trọng cho phát triển kinh tế của một đất nước. Trong vài năm gần đây, ở nước ta một số tuyến đường cao tốc được đưa vào sử dụng.
Hoàng Văn Long (2015) [49] đã khái quát tình hình xây dựng; phân tích, đánh giá việc khai thác sử dụng những giá trị kinh tế và giá trị xã hội của việc khai thác đường cao tốc tại Việt Nam - trường hợp đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương. Vấn đề phát triển đường cao tốc cũng được quan tâm nhiều thông qua các hội thảo chuyên đề. Đó là hội thảo về giới thiệu kinh nghiệm của Hàn Quốc trong xây lắp các công trình an toàn giao thông và tường chống ồn cho đường cao tốc được tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc phối hợp với công ty Shin Sung Control VietNam phối hợp tổ chức năm 2011. Hội thảo do Bộ GTVT phối hợp với Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam tổ chức năm 2014 với chủ đề “Xây dựng đường cao tốc nhìn từ nhiều phía”.
Hội thảo đã thu hút được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, các chủ đầu tư, các nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng tham gia. Hầu hết các nghiên cứu trong nước đều cho thấy tính cấp thiết phát triển loại đường bộ cao tốc trong thời gian tới ở Việt Nam. Một số nghiên cứu do Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) thực hiện đã xây dựng chiến lược phát triển bền vững giao thông đường bộ, đường cao tốc gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đặt trong quan hệ chặt chẽ các vùng, miền trong một quốc gia. Nghiên cứu về phát triển KCHTGT vùng như Đỗ Đức Tú (2012) [70] đã luận giải cơ sở lý luận về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng hiện đại.
Phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vận tải luôn là mục tiêu hướng tới của các quốc gia, đặc biệt ở những nước chịu ảnh hưởng lớn về biến đổi khí hậu như nước ta. Đặng Trung Thành (2011) [66] đưa ra các nguyên tắc phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông. Trên cơ sở các nguyên tắc, nghiên cứu đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ. Nghiên cứu của Bùi Hoàng Lan (2010) [47] cho thấy vai trò của việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ khi phân tích và đánh giá tác động của việc phát triển hệ thống giao thông đường bộ trong mối liên hệ tương quan với tốc độ tăng trưởng GDP của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam.
12 Phạm vi nghiên cứu của tài liệu này đánh giá tác động của tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, chưa đánh giá, phân tích tác động trong sự phát triển trên diện rộng trên cả nước. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cùng với Bộ GTVT Việt Nam trong một nghiên cứu năm 2010 [55] đã khảo sát, thống kê phương tiện vận tải thực tế đối với tất cả các phương thức GTVT tại các vùng, miền của đất nước và đưa ra các kịch bản về tốc độ phát triển kinh tế quốc gia, tính toán nhu cầu GTVT trong từng giai đoạn cho đến năm 2030. Theo dự báo, nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa bằng đường bộ sẽ tăng rất mạnh (lượt hành khách và tấn hàng hóa sẽ tăng khoảng 400%, hành khách/km và tấn/km sẽ tăng khoảng 800% so với năm 2008). Các công trình nghiên cứu về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Đầu tư phát triển KCHTGTĐB là nội dung quan trọng nhất trong phát triển KCHTGTĐB.
Để tiến hành hoạt động đầu tư, nhân tố cốt lõi và quyết định cần có là vốn. Nghiêm Văn Dĩnh (2010) [27] và (2012) [28] đã cung cấp kiến thức chung về cơ sở khoa học của các hoạt động đầu tư và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng giao thông. Phạm Hoài Chung (2016) [24] luận giải các cơ sở lý luận, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ đô thị. Nghiên cứu của Dương Văn Chung (2015) [22] đã cung cấp khá đầy đủ nguồn số liệu về vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng GTVT ở nước ta trong giai đoạn 2000 - 2012 và đề xuất giải pháp huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nói chung trên phạm vi toàn quốc đối với các phương thức vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa và đường hàng không.
Vốn đầu tư hạ tầng luôn là vấn đề hết sức cấp thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Phạm Thị Tuyết (2018) [73] đề xuất 9 giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam. Trong đó, nhấn mạnh giải pháp xã hội hóa vốn đầu tư với các công trình giao thông đường bộ. Phạm Thị Xuân (2018) [83] làm rõ thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển giao thông đường bộ Việt Nam giai đoạn 2001-2016.
Những năm gần đây, vấn đề huy động vốn xây dựng đường bộ cao tốc được đề cập nhiều. Trong đó, nêu cụ thể các vấn đề như vốn đầu tư, xây dựng, khai thác, bảo trì, thu phí, quản lý, các vấn đề có liên quan đến các địa phương có đường cao tốc đi qua, ý thức tham gia giao thông của người dân. Nghiên cứu của Đặng Thị Hà (2013) [36] đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước nói chung và theo hình thức PPP nói riêng để thực hiện các 13 dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước theo các hình thức hợp tác giữa Nhà nước và các nhà đầu tư PPP để phát triển đường cao tốc.
Đề cập đến vấn đề phát triển hạ tầng giao thông nói chung, trong đó có giao thông đường bộ, tác giả Phí Vĩnh Tường (2015) [74] đã có những phân tích khá kỹ ở nhiều khía cạnh như mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển hạ tầng giao thông, xu hướng chuyển giao một phần vai trò phát triển hạ tầng giao thông sang khu vực tư nhân. Môi trường chuyển giao vai trò cho khu vực tư nhân là hình thức đối tác công tư. Tài liệu cũng nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạch phát triển giao thông đường bộ ở Đài Loan, kinh nghiệm huy động vốn cho phát triển hạ tầng giao thông của Chile, Trung Quốc nhằm rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Khi phân tích về thực trạng, khung chính sách phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam, tài liệu đã chỉ ra những thách thức trong quá trình phát triển.
Đó là những thách thức về quy hoạch phát triển, huy động vốn, thách thức phát triển hạ tầng giao thông phục vụ mục tiêu giảm nghèo và kết nối với hạ tầng giao thông khu vực GMS và ASEAN.