Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số 62 31 03 01) của nghiên cứu sinh Bùi Phương Thanh, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Thu Hương và PGS. Nguyễn Thanh Xuân, tập trung phân tích đề tài: "Sự tham gia hoạt động từ thiện xã hội của phật tử tại nội thành Hà Nội hiện nay".

                              KHUNG PHÂN TÍCH LUẬN ÁN

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt lý luận, hoạt động từ thiện xã hội (TTXH) của phật tử và tổ chức Phật giáo là một hiện tượng xã hội thuộc phạm trù xã hội học tôn giáo. Xung quanh hiện tượng này tồn tại các tranh luận học thuật: một hướng xem từ thiện bắt nguồn thuần túy từ đạo đức, nhân sinh và lòng từ bi của đạo Phật; hướng khác nhìn nhận từ thiện như sự phân phối lại tài sản giữa các tầng lớp xã hội hoặc là hành vi tìm kiếm sự bù đắp tâm linh, vốn xã hội. Việc làm sáng tỏ logic hành động của phật tử thông qua các lý thuyết xã hội học thực nghiệm là một yêu cầu cấp thiết.

Về mặt thực tiễn, Phật giáo Việt Nam có truyền thống tham gia sâu rộng vào các hoạt động thiện nguyện. Theo văn kiện Đại hội đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) toàn quốc lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2017–2022), trong nhiệm kỳ VII (2012–2017), Giáo hội đã duy trì 165 Tuệ Tĩnh đường, hàng trăm phòng chẩn trị y học dân tộc, trên 10 phòng khám Tây y – Đông y kết hợp, khám và phát thuốc từ thiện trị giá hàng chục tỷ đồng, cùng nhiều chương trình cứu trợ thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa, bảo trợ cô nhi và người khuyết tật. Tuy nhiên, hoạt động TTXH của Phật giáo phần lớn mang tính tự phát, dựa trên thói quen và kinh nghiệm cá nhân, thiếu sự quản lý chuyên nghiệp và tính bền vững. Trong khi đó, niềm tin tôn giáo được xem là động lực thúc đẩy người dân tham gia đóng góp cao hơn hẳn nhóm không tôn giáo. Trước bối cảnh đó, nghiên cứu đi sâu phân tích động cơ, tâm thế và hành vi thực tế của nhóm phật tử tại đô thị lớn như Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở vận dụng lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết lựa chọn duy lý về tôn giáo và lý thuyết về từ thiện xã hội, luận án mô tả thực trạng, làm sáng tỏ logic tham gia và xác định các nhân tố tác động đến động cơ, tâm thế, hành động tham gia TTXH của phật tử tại nội thành Hà Nội.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm công cụ (từ thiện xã hội, phật tử, sự tham gia TTXH của phật tử) và các khung lý thuyết xã hội học để thiết kế nghiên cứu.
  2. Mô tả các đặc điểm hoạt động từ thiện của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay.
  3. Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu xã hội (giới tính, học vấn, độ tuổi, nghề nghiệp) và đặc trưng tôn giáo (mức độ quy thuộc, niềm tin, thực hành nghi lễ) của nhóm phật tử tham gia TTXH ở Hà Nội.
  4. Phân tích quan niệm, động cơ, tâm thế và hành vi tham gia TTXH của phật tử, đồng thời đo lường các yếu tố tác động đến sự tham gia này.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi chính:

  1. Phật tử tham gia hoạt động TTXH có những đặc điểm như thế nào?
  2. Quan niệm, động cơ, tâm thế và hành động tham gia TTXH của phật tử hiện nay ra sao?
  3. Yếu tố nào tác động đến quan niệm, động cơ, tâm thế và hành động tham gia hoạt động TTXH của phật tử?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Phật tử tham gia TTXH có sự đa dạng về đặc điểm nhân khẩu xã hội (giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, ngành nghề) và đặc trưng tôn giáo (mức độ quy thuộc đạo Phật, niềm tin và sự thực hành nghi lễ).
  • Giả thuyết 2: Phật tử có những quan niệm khác nhau về TTXH; đa số phật tử sẵn sàng tham gia vào các hoạt động TTXH theo nhiều hình thức, kênh đóng góp, đối tượng trợ giúp và vai trò khác nhau.
  • Giả thuyết 3: Sự tham gia hoạt động TTXH của phật tử chịu sự tác động đồng thời của các yếu tố nhân khẩu xã hội và các yếu tố đặc trưng tôn giáo.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành động tham gia hoạt động từ thiện xã hội của phật tử tại nội thành Hà Nội.
  • Khách thể nghiên cứu: Phật tử tại khu vực nội thành Hà Nội.
  • Đối tượng khảo sát: Phật tử trực tiếp tham gia hoạt động TTXH và một số tăng sĩ Phật giáo tại các điểm khảo sát.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại 07 ngôi chùa lớn và 03 câu lạc bộ (CLB) phật tử phân bố đều trên địa bàn các quận nội thành thuộc thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu, phỏng vấn và khảo sát trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chiều cạnh nhận thức, động cơ, tâm thế, lựa chọn đối tượng trợ giúp, kênh đóng góp, hình thức đóng góp và vai trò của phật tử; giới hạn xem xét tác động từ các yếu tố chủ quan (nhân khẩu xã hội, đặc trưng tôn giáo) đến hành vi tham gia TTXH.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:

                          CÁC HƯỚNG TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CẤP ĐỘ ĐÓNG GÓP    YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG             TÔN GIÁO & CTXH    PHẬT TỬ TẠI VN
• Quốc gia (CAF)   • Học vấn (Pamala Wiepking)  • Úc (Thích Nguyên • Niềm tin (Vũ
• Tổ chức (NGOs/   • Giới tính (Debra J. Mesch)   Hiệp, Sherwood)    Dũng, Võ Văn
  Doanh nghiệp)    • Tôn giáo (Kurt Bowen,      • Việt Nam (Hoàng    Thành)
• Cá nhân (ISEE)     Joonmo Son, John Wilson)     Thu Hương,...)   • Hoạt động tu tập

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Nghiên cứu về các cấp độ đóng góp từ thiện:

    • Cấp độ quốc gia: Báo cáo của tổ chức Charities Aid Foundation (CAF, 2016) khảo sát tại 140 quốc gia chỉ ra Myanmar dẫn đầu về chỉ số cho đi nhờ chuẩn mực thực hành đạo Phật, trong khi Việt Nam xếp thứ 64/160. Elizabeth Ferris (2005) khảo sát vai trò của các tổ chức phi chính phủ dựa trên đức tin; Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center, 2016) chỉ ra tôn giáo đóng góp 1,2 nghìn tỷ USD cho kinh tế - xã hội Mỹ qua y tế, giáo dục và từ thiện. Penny Knight & Gilchrist (2015) nghiên cứu đóng góp từ thiện của các tổ chức tôn giáo tại Úc. Diệp Vũ (2014) thống kê quy mô các quỹ từ thiện toàn cầu.
    • Cấp độ tổ chức: Brandon Vaidyanathan (2008), Priga Viswanath & Noshir Dadrawala (2004) dẫn khảo sát Action Aid (1999) với 69% trong 600 doanh nghiệp tham gia phát triển xã hội và 78% góp tiền mặt. Tại Việt Nam, Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2011), Đặng Hoàng Giang & Phạm Minh Trí (2013), Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISEE, 2015) phân tích trách nhiệm xã hội và động cơ xây dựng thương hiệu qua từ thiện của doanh nghiệp.
    • Cấp độ cá nhân: ISEE (2015), Đặng Nguyên Anh (2015) chỉ ra đa số người dân hiểu từ thiện theo nghĩa cứu trợ khẩn cấp hơn là giải quyết căn nguyên bất bình đẳng; Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2011) ghi nhận 73% hộ nông thôn và 51% hộ thành thị mong muốn làm việc thiện. Hoàng Thu Hương và cộng sự (2016) nghiên cứu về tâm thế sẵn sàng từ thiện của người dân.
  • Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự đóng góp:

    • Trình độ học vấn và môi trường: Pamala Wiepking (2008), Lưu Bành (2010), Joonmo Son & John Wilson (2012) khẳng định giáo dục làm tăng hiểu biết xã hội và nguồn lực tài chính, từ đó thúc đẩy hành vi chia sẻ.
    • Yếu tố giới tính: Nguyen-Marshall (2008), Debra J. Mesch và cộng sự (2006, 2011), Lê Văn Hảo (2016) chứng minh phụ nữ có xu hướng đồng cảm, chăm sóc và tham gia hoạt động thiện nguyện cộng đồng cao hơn nam giới.
    • Yếu tố tôn giáo: Kurt Bowen (1997), Joonmo Son & John Wilson (2012) chỉ ra 53% người Mỹ đi nhà thờ tham gia tình nguyện so với 19% người không đi lễ. Brett G. Scharffs (2007, dẫn theo Trần Hồng Liên, 2017) cho biết các tổ chức tôn giáo tại Mỹ tiếp nhận 45,2% tổng đóng góp tài chính của các hộ gia đình. Các tác giả Amato (1990), Snyder & Omoto (1991), Hodgkinson & Weitzman (1990) nhấn mạnh người có tôn giáo sẵn sàng hỗ trợ bệnh nhân hiểm nghèo và trích thu nhập làm từ thiện cao hơn. Putnam (2000), Fukuyama (2001) phân tích tôn giáo dưới góc độ gia tăng vốn xã hội.
  • Nghiên cứu mối quan hệ giữa từ thiện tôn giáo và dịch vụ/công tác xã hội (CTXH):

    • Nghiên cứu quốc tế: Thích Nguyên Hiệp (2000), Sherwood (2000) khảo sát 319 tổ chức Phật giáo tại Úc tham gia chăm sóc giảm nhẹ, hỗ trợ người cai nghiện, thăm tù nhân. Canda & Furman (2010), Canda & Phaobtong (1992), Garces-Foley (2003) nghiên cứu mô hình chùa chiền cung cấp dịch vụ xã hội, tinh thần cho người nhập cư tại Mỹ.
    • Nghiên cứu tại Việt Nam: Mạc Văn Tiến (1996), Sidel (1997), Thích Nguyên Thành (2013), Chử Thị Kim Phương (2012), Dương Hoàng Lộc (2013), Trương Văn Chung (2013), Nguyễn Tài Đông (2013) ghi nhận các lĩnh vực từ thiện y tế (Tuệ Tĩnh đường), giáo dục, cứu trợ thiên tai của Phật giáo. Nhóm tác giả Hoàng Thu Hương (2012, 2017), Nguyễn Ngọc Hường (2012), Nguyễn Hồi Loan (2012, 2015), Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Thu Trang và Yusuke Fujimori (2012) phân tích sự tương đồng giữa triết lý Phật giáo và các giá trị của nghề CTXH, hướng tới xây dựng mô hình CTXH gắn với Phật giáo.
  • Nghiên cứu về phật tử ở Việt Nam:

    • Niềm tin và thực hành nghi lễ: Vũ Dũng (2014), Võ Văn Thành (2014), Thích Khổng Tú (2017), Thái Văn Anh (2017), Đặng Hoàng Thanh Lan (2014), Hoàng Thu Hương (2004, 2012, 2016), Nguyễn Thị Minh Ngọc (2004), Nguyễn Minh Hằng (2017) nghiên cứu cấu trúc niềm tin (nhân quả, luân hồi, nghiệp báo) và hành vi đi chùa, tụng kinh của tín đồ.
    • Hoạt động tu tập và xã hội: Lê Văn Đính (2002, 2004), Nguyễn Thị Minh Ngọc (2014), Phúc Tâm phân tích sinh hoạt Gia đình Phật tử và các CLB thanh thiếu niên; Hoàng Thu Hương & Bùi Phương Thanh (2016), Đặng Hoàng Thanh Lan (2014), Hoàng Thu Hương (2016) khảo sát đạo đức kinh doanh và động cơ khởi nghiệp của doanh nhân phật tử.

Khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu đi trước tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận hoạt động từ thiện Phật giáo dưới góc độ lịch sử, tôn giáo học thuần túy hoặc mô tả định tính mối liên hệ giữa giáo lý từ bi với công tác xã hội. Chưa có công trình xã hội học thực nghiệm chuyên sâu nào đo lường cụ thể hành vi tham gia TTXH của nhóm phật tử tại đô thị, cũng như chưa kiểm định định lượng mối quan hệ tương tác giữa mức độ quy thuộc, niềm tin tôn giáo, động cơ, tâm thế với các hành vi đóng góp cụ thể (kênh tài trợ, hình thức bố thí, vai trò tham gia). Luận án của Bùi Phương Thanh giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm công cụ

  • Phật tử: Tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm người tự nhận có niềm tin vào đạo Phật và thực hành nghi lễ tại các cơ sở tự viện. Luận án sử dụng thang đo mức độ quy thuộc đạo Phật của Hoàng Thu Hương (2016) gồm 3 tiêu chí: (1) Tự xác nhận là phật tử, (2) Đã quy y Tam bảo (có pháp danh), (3) Có tham gia hội/nhóm/đạo tràng phật tử.
  • Hoạt động từ thiện xã hội (TTXH): Phân biệt giữa hai khái niệm tiếng Anh: Charity (cứu trợ trực tiếp, tức thời mang tính cảm tính) và Philanthropy (hoạt động tự nguyện có kế hoạch, có mục tiêu hỗ trợ nhóm yếu thế cải thiện chất lượng sống dài hạn). Luận án tiếp cận theo hướng Philanthropy.
  • Bố thí theo quan điểm Phật giáo: Dựa trên Kinh Tăng chi bộ (Anguttara Nikaya) và Lục độ tập kinh (Khương Tăng Hội), hoạt động TTXH được quy chiếu theo ba hình thức bố thí:
    1. Tài thí: Gồm ngoại tài (tiền của, vật phẩm, lương thực) và nội tài (hiến máu, hiến bộ phận cơ thể, công sức).
    2. Pháp thí: Truyền bá giáo lý, chia sẻ lời khuyên hướng thiện, định hướng sống chánh pháp.
    3. Vô cực thí (Vô úy thí): Đem lại sự bình an tinh thần, an ủi, chia sẻ, giúp người khác vượt qua nỗi sợ hãi.
    4. Nguyên tắc Ba La Mật: Tinh thần bố thí thanh tịnh, không mưu cầu danh lợi hay để lộ danh tính.
  • Sự tham gia: Được thao tác hóa qua ba thành tố vi mô: Động cơ (vị kỷ, vị tha, tôn giáo), Tâm thế (mức độ sẵn sàng đóng góp - Habitus), và Hành động (lựa chọn đối tượng, kênh đóng góp, hình thức đóng góp, vai trò tham gia).

Khung lý thuyết ứng dụng

  1. Lý thuyết sự lựa chọn duy lý về tôn giáo (Rodney Stark & William Sims Bainbridge): Giải thích hành vi tôn giáo như một sự lựa chọn có tính toán chi phí – lợi ích. Trong bối cảnh nguồn lực thế tục hữu hạn, các phần thưởng tôn giáo (phước báo, sự an lạc tâm trí, giải trừ nghiệp chướng) đóng vai trò là "vật bù đắp" (compensators), thúc đẩy phật tử dành thời gian và tiền bạc cho hoạt động từ thiện.
  2. Lý thuyết hành động xã hội (Max Weber, Talcott Parsons): Phân loại hành động của phật tử theo các dạng thức: hành động duy lý giá trị (thực thi chuẩn mực đạo đức Phật giáo), duy lý mục đích (hướng tới giải quyết khó khăn cụ thể hoặc tạo phúc đức), hành động truyền thống (thói quen đi chùa làm phúc) và hành động cảm xúc. Khung phân tích xem xét ý nghĩa chủ quan mà chủ thể gán cho hành động hướng tới người khác.
  3. Lý thuyết về từ thiện xã hội và tâm lý học động cơ: Vận dụng mô hình động cơ của David McClelland (1961), Bar-Tal & Raviv (1982), Smith & Mackie (2007) để phân định động cơ vị tha (không mưu cầu đền đáp), động cơ vị kỷ (tìm kiếm lợi ích cá nhân/sự công nhận) và động cơ chuẩn mực tôn giáo.
  4. Khái niệm "Habitus" (Pierre Bourdieu): Sử dụng để giải thích tâm thế từ thiện như một tập tính xã hội hóa được thẩm thấu qua quá trình tu tập, sinh hoạt tôn giáo, biến sự sẵn sàng cho đi thành phản xạ tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp thu thập Quy mô / Cách thức triển khai Mục đích thu thập
Phân tích tài liệu Các văn kiện Đại hội GHPGVN, báo cáo Ban Trị sự, kinh sách Phật giáo (Kinh Tăng chi bộ, Lục độ tập kinh), số liệu thống kê tôn giáo Xây dựng cơ sở lý luận, tổng quan thực trạng TTXH Phật giáo
Điều tra bảng hỏi (Survey) Khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc trên mẫu phật tử tại 07 chùa và 03 CLB ở nội thành Hà Nội Thu thập dữ liệu định lượng về nhân khẩu, niềm tin, động cơ, tâm thế và hành vi TTXH
Phỏng vấn sâu (PVS) Phỏng vấn bán cấu trúc nhóm phật tử và một số tăng sĩ trụ trì/quản lý tại Hà Nội Đào sâu ý nghĩa chủ quan, chiều sâu động cơ và các trải nghiệm thực hành
Quan sát tham dự Quan sát tại các đạo tràng, khoá lễ, buổi phát quà từ thiện, hoạt động CLB Kiểm chứng tính chân thực giữa lời khai báo và hành vi thực tế

Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm định bảng chéo ($Chi-square$), và xây dựng các mô hình hồi quy Logistic đa biến nhằm kiểm định tác động của các biến nhân khẩu, biến tôn giáo đến quyết định lựa chọn kênh và hình thức đóng góp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động từ thiện ở ba cấp độ (quốc gia, tổ chức, cá nhân), các yếu tố chi phối hành vi cho đi (học vấn, giới tính, môi trường, niềm tin tôn giáo, hôn nhân, thu nhập), và mối quan hệ giữa từ thiện tôn giáo với hệ thống an sinh xã hội. Luận án làm rõ các công trình nghiên cứu về tín đồ Phật giáo tại Việt Nam trên phương diện niềm tin, tu tập và hoạt động xã hội, từ đó chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận và thực nghiệm mà đề tài cần giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thiết lập khung khái niệm và phương pháp luận cho toàn bộ luận án. Tác giả làm rõ nội hàm của các khái niệm: phật tử, hoạt động TTXH, sự tham gia TTXH; đối chiếu quan niệm từ thiện hiện đại với các phạm trù bố thí Phật giáo (tài thí, pháp thí, vô cực thí). Luận án xây dựng sơ đồ khung phân tích liên kết giữa các biến độc lập (nhân khẩu xã hội, đặc trưng tôn giáo), biến trung gian (động cơ, tâm thế) và biến phụ thuộc (hành vi tham gia TTXH). Chương này cũng trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu, công cụ thu thập thông tin và các kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê.

Chương 3: Cơ sở thực tiễn về nghiên cứu hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo

Chương 3 khái quát bức tranh thực tiễn về hoạt động TTXH của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hà Nội, đồng thời phác họa chân dung xã hội của mẫu khảo sát:

  • Thực tiễn hoạt động: Phật giáo tham gia vào các lĩnh vực y tế nhân đạo (khám chữa bệnh, phát thuốc qua Tuệ Tĩnh đường), cứu trợ thiên tai, bảo trợ xã hội và chăm sóc bệnh nhân hiểm nghèo. Hạn chế thực tế nằm ở tính tự phát, phân tán, thiếu quy chuẩn quản lý chuyên nghiệp (như nhận định của HT. Thích Như Niệm, 2011).
  • Đặc trưng nhân khẩu xã hội của mẫu khảo sát:
Nhóm đặc trưng Biến số Phân bố trong mẫu khảo sát
Giới tính Nữ giới / Nam giới Nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo
Độ tuổi Cơ cấu tuổi Trải rộng từ thanh niên đến người cao tuổi; nhóm trung niên và cao niên chiếm tỷ trọng lớn
Trình độ học vấn Phổ thông đến đại học/sau đại học Tỷ lệ phật tử có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệ đáng kể
Nghề nghiệp Các nhóm ngành nghề Đa dạng gồm hưu trí, kinh doanh tự do, công chức, viên chức, học sinh - sinh viên
Đặc trưng tôn giáo Mức độ quy thuộc đạo Phật Phân hóa theo 3 mức: Tự nhận là phật tử; Đã quy y Tam bảo; Có tham gia CLB/đạo tràng
Niềm tin & Thực hành Niềm tin giáo lý & Nghi lễ Đa số tin tưởng sâu sắc vào luật Nhân quả, Luân hồi, Nghiệp báo; duy trì tụng kinh tại gia và tham dự các đại lễ (Phật Đản, Vu Lan) trong năm 2016

Chương 4: Động cơ và tâm thế tham gia hoạt động từ thiện xã hội của phật tử ở nội thành Hà Nội

Chương 4 phân tích thế giới quan và trạng thái tâm lý bên trong của phật tử khi tham gia TTXH:

  • Quan niệm và hiểu biết: Phật tử hiểu TTXH không chỉ là hành động giúp người nghèo khổ (theo nghĩa thế tục) mà gắn liền với quan niệm "bố thí" để gieo trồng phước đức, chuyển hóa nghiệp chướng bản thân và gia đình. Sự hiểu biết về tài thí chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là vô cực thí và pháp thí.
  • Cơ cấu động cơ tham gia: Luận án chỉ ra sự đan xen giữa ba luồng động cơ:
    1. Động cơ vị tha: Lòng trắc ẩn, tình thương người, mong muốn giảm bớt nỗi đau cho tha nhân.
    2. Động cơ tôn giáo: Thực hành lời Phật dạy, tích lũy công đức cho đời này và đời sau, cầu an lành, giải nghiệp.
    3. Động cơ tâm lý / vị kỷ: Tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn, giải tỏa căng thẳng cuộc sống.
  • Biểu hiện hành vi: Luận án ghi nhận sự hiện diện của tinh thần "bố thí Ba La Mật" (nhiều phật tử không muốn ghi danh bảng vàng công đức, làm việc thiện thầm lặng), song song với xu hướng chia sẻ hoạt động lên mạng xã hội nhằm mục đích kết nối và vận động nguồn lực cộng đồng.
  • Tâm thế tham gia (Habitus): Đo lường qua tình huống giả định phân bổ 10 đồng tiền dư sau chi tiêu thiết yếu. Kết quả thực nghiệm cho thấy phật tử luôn ưu tiên một phần ngân sách nhất định cho việc làm từ thiện và cúng dường Tam bảo, khẳng định tâm thế sẵn sàng cho đi đã trở thành tập tính ăn sâu vào nếp sống của tín đồ.

Chương 5: Hành động tham gia các hoạt động từ thiện xã hội của phật tử ở nội thành Hà Nội

Chương 5 phân tích chi tiết các biểu hiện hành vi thực tế của phật tử qua dữ liệu khảo sát:

  • Lựa chọn đối tượng trợ giúp: Phật tử ưu tiên hỗ trợ các nhóm yếu thế nhất: người nghèo, bệnh nhân nghèo/bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo tại các bệnh viện, trẻ em mồ côi, người già neo đơn không nơi nương tựa, và người dân vùng chịu thiên tai, lũ lụt.
  • Lựa chọn kênh đóng góp:
    • Kênh qua chùa/tự viện và câu lạc bộ phật tử tiếp nhận tỷ lệ đóng góp cao nhất và là nơi phật tử gửi gắm khoản tiền từ thiện lớn nhất trong năm 2016.
    • Lý do lựa chọn: Niềm tin tuyệt đối vào uy tín của Tăng Ni trụ trì, tính minh bạch trong phân bổ nguồn tiền và sự thuận tiện khi kết hợp giữa đi lễ chùa và làm việc thiện.
    • Kết quả mô hình hồi quy Logistic: Tuổi tác, mức độ quy thuộc đạo Phật và động cơ tôn giáo là những biến số có ý nghĩa thống kê dự báo xu hướng phật tử lựa chọn đóng góp qua kênh tự viện thay vì các kênh đoàn thể ngoài tôn giáo.
  • Hình thức đóng góp:
    • Tài thí: Là hình thức chủ yếu, bao gồm tiền mặt, gạo, quần áo, thuốc men, hỗ trợ viện phí. Hoạt động hiến máu nhân đạo và đăng ký hiến mô tạng (nội tài thí) bắt đầu được một bộ phận phật tử tiếp nhận.
    • Vô cực thí & Pháp thí: Phật tử tham gia động viên tinh thần, lắng nghe tâm tư của bệnh nhân, chia sẻ các bài giảng pháp, sách Phật giáo nhằm giúp người gặp nạn tìm lại sự bình an tinh thần. Mô hình hồi quy khẳng định những người có độ tuổi cao và mức độ niềm tin tôn giáo sâu sắc có xu hướng thực hành vô cực thí cao hơn.
  • Vai trò tham gia: Phật tử đảm nhận đa dạng các vai trò, từ người đóng góp tài chính/hiện vật trực tiếp, người tham gia khâu tổ chức/vận chuyển/phát quà, đến người trực tiếp vận động, kết nối nguồn lực từ mạng lưới bạn bè, người thân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  1. Bổ sung tri thức cho Xã hội học tôn giáo tại Việt Nam: Luận án là một trong những công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận hoạt động từ thiện của phật tử dưới góc độ xã hội học thực nghiệm, góp phần làm phong phú mảng nghiên cứu xã hội học tôn giáo vốn còn ít công trình định lượng tại Việt Nam.
  2. Kiểm chứng và phát triển các khung lý thuyết: Luận án khẳng định giá trị ứng dụng của Lý thuyết hành động xã hội (Weber), Lý thuyết lựa chọn duy lý về tôn giáo (Stark & Bainbridge) và Lý thuyết về từ thiện xã hội trong việc giải mã hành vi tôn giáo của cư dân đô thị. Luận án chứng minh rằng hành vi từ thiện của phật tử không đơn thuần là hành động cảm tính mà là một cấu trúc hành động duy lý phức hợp, nơi các "vật bù đắp tôn giáo" (phước đức, sự an lạc) được chủ thể cân nhắc và tích hợp vào hệ thống giá trị sống.
  3. Đóng góp về phương pháp luận: Vận dụng thành công cách tiếp cận liên ngành giữa Xã hội học và Tâm lý học, kết hợp hài hòa giữa các thang đo định lượng (hồi quy Logistic, bảng chéo) với kỹ thuật định tính chuyên sâu (phỏng vấn sâu, quan sát tham dự) để lượng hóa các khái niệm tôn giáo vốn trừu tượng.

Đóng góp về mặt thực tiễn và khuyến nghị

  • Bức tranh thực nghiệm: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về thực trạng, cơ cấu động cơ, tâm thế và hành vi TTXH của phật tử tại địa bàn trọng điểm Hà Nội.
  • Khuyến nghị khoa học: Đề xuất tiếp tục mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò xã hội của các tôn giáo khác nhau, xây dựng bộ chỉ báo chuẩn hóa đo lường mức độ tham gia xã hội của tín đồ tôn giáo tại Việt Nam.
  • Khuyến nghị thực tiễn:
    • Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Cần đổi mới phương thức tổ chức hoạt động TTXH từ mô hình cứu trợ sự vụ sang mô hình phát triển bền vững; đào tạo kỹ năng công tác xã hội chuyên nghiệp cho Tăng Ni và phật tử nòng cốt; minh bạch hóa việc tiếp nhận và giải ngân quỹ từ thiện tại các tự viện nhằm củng cố niềm tin của cộng đồng.
    • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo: Cần nhận diện rõ nguồn lực xã hội to lớn từ Phật giáo; hoàn thiện khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo tham gia cung ứng dịch vụ an sinh xã hội, y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội theo hướng chuyên nghiệp hóa, hợp pháp hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Khách thể nghiên cứu có tính phân tán cao, không xác định được quy mô tổng thể chính xác của tín đồ Phật giáo, do đó mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện tại 07 ngôi chùa và 03 CLB ở nội thành Hà Nội, chưa mang tính đại diện thống kê cho toàn bộ phật tử Thủ đô.
    • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các yếu tố chủ quan bên trong của phật tử (đặc trưng nhân khẩu, mức độ quy thuộc, niềm tin, động cơ), chưa phân tích sâu tác động của các yếu tố thể chế, môi trường chính sách và bối cảnh kinh tế vĩ mô.
    • Chưa khảo sát đối chứng trực tiếp nhóm nhà quản lý Nhà nước về tôn giáo, đại diện lãnh đạo cấp cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các đối tượng trực tiếp thụ hưởng hoạt động từ thiện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát ra khu vực ngoại thành Hà Nội và các tỉnh/thành phố thuộc các vùng văn hóa khác nhau (miền Trung, miền Nam) để so sánh sự khác biệt vùng miền.
    • Thực hiện các nghiên cứu so sánh liên tôn giáo về hành vi từ thiện giữa Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và nhóm không tôn giáo.
    • Nghiên cứu sâu về mô hình kết hợp giữa cơ sở tôn giáo với mạng lưới công tác xã hội chuyên nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Xã hội học, Tôn giáo học, Công tác xã hội, Tâm lý học xã hội và Văn hóa học; đặc biệt có giá trị tham khảo về phương pháp thiết kế công cụ đo lường mức độ quy thuộc tôn giáo và mô hình hồi quy phân tích hành vi xã hội.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước: Ban Tôn giáo Chính phủ, cơ quan quản lý văn hóa - xã hội các cấp trong việc hoạch định chính sách tôn giáo, phát huy nguồn lực phi chính phủ trong công tác an sinh xã hội.
  • Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các Tự viện: Ban Từ thiện Xã hội GHPGVN, các Tăng Ni trụ trì và Ban điều hành các câu lạc bộ/đạo tràng phật tử trong việc định hướng, tổ chức và chuyên nghiệp hóa các hoạt động thiện nguyện, kết nối hiệu quả nguồn lực của phật tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "phật tử" được luận án định nghĩa và đo lường bằng những tiêu chí cụ thể nào?
Luận án tiếp cận khái niệm phật tử theo nghĩa rộng, không giới hạn ở những người đã quy y Tam bảo mà bao gồm tất cả những người có niềm tin vào đạo Phật và tham gia thực hành nghi lễ tại các tự viện. Về mặt đo lường thực nghiệm, tác giả sử dụng thang đo mức độ quy thuộc gồm 3 tiêu chí: (1) Tự nhận mình là phật tử, (2) Đã quy y Tam bảo (có pháp danh), và (3) Có tham gia sinh hoạt tại các hội/nhóm/đạo tràng/CLB phật tử.

2. Phật tử tại nội thành Hà Nội chủ yếu lựa chọn kênh nào để đóng góp các khoản từ thiện lớn nhất?
Dữ liệu khảo sát thực nghiệm chỉ ra rằng kênh qua chùa chiền (tự viện) và các câu lạc bộ phật tử là kênh được phật tử lựa chọn nhiều nhất và dành khoản đóng góp lớn nhất trong năm. Nguyên nhân chính là do niềm tin tuyệt đối vào uy tín, đạo hạnh của chư Tăng Ni trụ trì, tính minh bạch trực tiếp trong quá trình phân bổ cứu trợ và sự thuận tiện gắn liền với sinh hoạt tín ngưỡng hàng ngày.

3. Yếu tố tôn giáo tác động như thế nào đến hành vi tham gia từ thiện xã hội của phật tử?
Kết quả phân tích hồi quy Logistic trong luận án chứng minh rằng mức độ quy thuộc đạo Phật, mức độ tin tưởng vào giáo lý (luật nhân quả, nghiệp báo) và động cơ tôn giáo (tích phước, cầu an, thực hành lời Phật dạy) là các biến số có mối liên hệ thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đối với việc thúc đẩy phật tử tích cực đóng góp tài chính, lựa chọn kênh đóng góp qua tự viện và tham gia vào các hình thức bố thí tinh thần (vô cực thí).

4. Luận án phân loại các hình thức từ thiện của phật tử theo khung lý thuyết Phật giáo như thế nào?
Luận án quy chiếu các hoạt động thiện nguyện thực tế vào ba hình thức bố thí kinh điển: Tài thí (đóng góp tiền của, thuốc men, thực phẩm hoặc hiến máu/hiến tạng); Pháp thí (chia sẻ giáo lý, khuyên bảo điều thiện, hướng dẫn lối sống lành mạnh); và Vô cực thí / Vô úy thí (động viên, an ủi, lắng nghe, xoa dịu nỗi sợ hãi và mang lại bình an tinh thần cho người gặp khó khăn).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Phương Thanh đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống về thực trạng, động cơ, tâm thế và hành vi tham gia hoạt động từ thiện xã hội của phật tử tại nội thành Hà Nội. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết xã hội học hiện đại với quan điểm bố thí của Phật giáo, công trình đã lượng hóa thành công tác động của các yếu tố nhân khẩu xã hội và đặc trưng tôn giáo đến hành vi thiện nguyện của tín đồ. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung luận cứ khoa học quan trọng cho chuyên ngành xã hội học tôn giáo mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho việc hoạch định chính sách an sinh và định hướng phát huy nguồn lực từ thiện tôn giáo tại Việt Nam.