CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài Trong cuộc sống đời thường hàng ngày, mỗi người chúng ta thường dùng rất nhiều từ, nhiều câu… mà chúng ta không hiểu hết ý nghĩa của chúng. Chúng ta hiểu từ đó là do kinh nghiệm thực tiễn mang lại nhưng chúng ta đâu có biết, dưới góc độ khoa học thì đưa ra một khái niệm nào đó là cả quá trình bàn luận, tranh cãi, mỗi một nhà khoa học thì có một quan điểm, một khái niệm khác nhau. Ví như từ “thái độ”, thường ngày chúng ta chỉ hiểu thái độ là cách ứng xử của ai đó…Nhưng trên phương diện khoa học thì đến nay cũng đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra và riêng đối với ngành Tâm lý học thì Thái độ là một đối tượng nghiên cứu. Bắt đầu từ năm 1935 trong cuốn “sổ tay tâm lý học xã hội” GW All Port cho rằng khái niệm thái độ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội Mỹ.
50 năm sau, năm 1985 cũng trong cuốn sổ tay tâm lý học xã hội nhưng của William. Mcguire tổng kết rằng thái độ và sự thay đổi vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thái độ là một khái niệm rất khó thống nhất. Chính vì vậy dù được nghiên cứu rất nhiều nhưng vẫn còn gây nhiều tranh cãi.1 Nghiên cứu thái độ ở Phương Tây Khi nghiên cứu lịch sử thái độ trong tâm lý học, nhà tâm lý học người Nga P.Shikhirev đã chia quá trình này thành 3 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: Từ khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai.
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Thời kỳ thứ hai: Từ chiến tranh thế giới thứ hai cho đến cuối những năm 50. Vì lý do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trong quá 6 trình lý giải các nghịch lý nảy sinh từ khi nghiên cứu thái độ, nên ở thời kỳ này các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút kể cả về số lượng và chất lượng. Thời kỳ thứ ba: Từ cuối những năm 50 trở lại đây các nước Phương Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh.
Cùng với sự phát triển đó các công trình nghiên cứu về thái độ cũng được tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới. Vào năm 1957 có một nghiên cứu đã lý giải tại sao “hành vi lại ảnh hưởng đến thái độ của con người” là thuyết bất đồng nhận thức của Leon Festinger. Ngoài ra các nhà tâm lý học Phương Tây còn nghiên cứu, xem xét nhiều khía cạnh khác của thái độ nhất là các vấn đề về vai trò, chức năng, cấu trúc như các nghiên cứu của M. Như vậy có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỷ XX cho đến nay ở Phương Tây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ.2 Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô Trong quá trình nghiên cứu thái độ ở Liên Xô trước đây có hai học thuyết được coi là có ảnh hưởng lớn tới tâm lý học Liên Xô hơn cả là thuyết Tâm Thế của D.Uzaztze và thuyết định vị của V.
Thuyết thái độ nhân cách cho rằng nhân cách là một hệ thống thái độ. Theo tác giả phản xạ có điều kiện chính là cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người với hiện thực. Miaxisev chia thái độ ra 2 loại tiêu cực và tích cực. Cùng với các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người.
Khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ các nhà tâm lý học Xô Viết đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như một hệ thống, từ đó đưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí và chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu đã có các công trình nghiên cứu sinh viên như: - I.Bogovic (1951) nghiên cứu động cơ, thái độ học tập của học sinh nhỏ.Marcova (1983) nghiên cứu hình thành động cơ học tập của học sinh. - Machikhina và đồng tác giả nghiên cứu quan hệ giữa động cơ và thái độ học tập của học sinh, sinh viên. 7 Ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức trước đây cũng có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thái độ do một số nhà tâm lý học xã hội như V.
Ngoài những vấn đề nghiên cứu một cách truyền thống thì các nhà tâm lý học Đức còn đề cập nhiều vấn đề khác như các cơ chế hình thành thái độ, sự định hình thái độ do M.Worwery và đồng nghiệp thực hiện. Trong lĩnh vực kinh tế một số công trình nghiên cứu đã xem thái độ như là thành tố của năng suất tập thể.3 Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam. Khi nghiên cứu các thành tựu của tâm lý học thế giới và thực tiễn tâm lý học nước nhà, các nhà tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập. Mục tiêu của giáo dục là hình thành ở người học có đủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, có văn hóa, có thái độ ứng xử hài hòa với môi trường sống, trong quá trình học tập và với bản thân mình.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu thái độ của học sinh, sinh viên còn chưa được triển khai rộng, mới chỉ đạt dược một số kết quả bước đầu như xác định vị trí, vai trò của thái độ. Nghiên cứu thái độ của sinh viên qua nghiên cứu hứng thú học tập, định hướng giá trị. Thái độ và đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên 1.1 Khái niệm về Thái độ. Cũng đã có nhiều khái niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các nhà Tâm lý., mỗi một nhà nghiên cứu, đứng dưới góc độ, khía cạnh khác nhau thì có các khái niệm về thái độ khác nhau.
Khái niệm thái độ lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1918. Hai nhà Tâm lý học người Mỹ là W.Zaniecki cho rằng: “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không có hành động khác mà được xã hội chấp nhận”, “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị”. Nhà Tâm lý học người Mỹ khác là G. Allport năm 1935 định nghĩa: “ Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối 8 với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ”.
Nhà Tâm lý học Newcom đã định nghĩa: “Thái độ chính là một thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân đến một đối tượng hay sự việc có liên quan”. Fillmore định nghĩa: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay biểu tượng trong môi trường”.Kalat định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người”. John Traven định nghĩa: “Thái độ là cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó”. Trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản năm 1996 tại New York cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định, bền vững do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định.
Không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao. Một thái độ được nhận thức ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng, trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”. Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa: “Thái độ là cách thừa nhận, hành động của cá nhân về một phương hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”.
Trong từ điển Xã Hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh “Tâm thế - thái độ xã hội đã được củng cố có cấu trúc phức tạp bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”. Trong từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa: “Thái độ là mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩa, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ hành động hoặc thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào trước sự việc, vấn đề gì, xác định thái độ học tập đúng đắn”.2 Khái niệm về sinh viên Sinh viên là những người đang học, đang được đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng. Hiện nay ở nước ta, muốn trở thành sinh viên phải có đủ các điều kiện quy định theo quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng do nhà nước ban hành và phải trải qua một kì thi tuyển sinh quốc gia. Về độ tuổi theo các nhà tâm lý học, phần lớn sinh viên ở lứa tuổi thanh niên giai đoạn 2 (từ 18 đến 25 tuổi).
Quá trình nhận thức, tư tưởng, hình thành nhân cách, sự phát triển về tâm sinh lý, nhu cầu, sở thích, phong cách, lối sống của họ lại có nhiều điểm khác với các thế hệ lớn tuổi.3 Đặc điểm Tâm Sinh lý của sinh viên Đặc điểm sinh học (thể chất) Theo các nhà sinh lý học, đến tuổi 25 thì sự phát triển của con người về mặt thể chất cũng tương đối hoàn thiện. Việc phân chia giai đoạn với các tên gọi chỉ có ý nghĩa tương đối. Đây là giai đoạn mà về mặt thể chất con người dần dần hoàn thiện thể hiện ở chỗ đến độ tuổi 25, trọng lượng của não đạt đến mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao nhất (14-16 tỉ).