Thái độ của sinh viên năm nhất trường đại học khoa học xã hội và nhân văn với việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường

Nghiên cứu thái độ sinh viên năm nhất trường đại học khoa học xã hội và nhân văn về chuyển đổi học chế tín chỉ và nghiên cứu khoa học.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường

2007

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu đề tài

1.2. Thái độ và đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên

1.3. Khái niệm về học chế tín chỉ

2. CHƯƠNG 2: THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC CHUYỂN ĐỔI SANG HỌC CHẾ TÍN CHỈ

2.1. Trường ĐH KHXH & NV với việc áp dụng học chế tín chỉ

2.2. Thái độ của sinh viên với việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ

2.3. Đánh giá chung

3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thái độ sinh viên năm nhất với chuyển đổi học chế tín chỉ

Chuyển đổi sang học chế tín chỉ là một bước tiến quan trọng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Đặc biệt, thái độ của sinh viên năm nhất đối với hình thức học này có ảnh hưởng lớn đến quá trình triển khai và hiệu quả học tập. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu rõ hơn về thái độ sinh viên và những yếu tố tác động đến sự chuyển đổi này.

1.1. Khái niệm về học chế tín chỉ và lợi ích của nó

Học chế tín chỉ là hình thức đào tạo linh hoạt, cho phép sinh viên tự quản lý thời gian học tập. Lợi ích học chế tín chỉ bao gồm việc sinh viên có thể tích lũy kiến thức theo tốc độ riêng, từ đó nâng cao khả năng tự học và phát triển bản thân.

1.2. Tầm quan trọng của thái độ sinh viên trong chuyển đổi học chế

Thái độ của sinh viên năm nhất ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ. Một thái độ tích cực sẽ giúp sinh viên dễ dàng thích nghi và phát huy tối đa lợi ích của hình thức học này.

II. Thách thức trong việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ

Việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ không chỉ đơn thuần là thay đổi hình thức học tập mà còn gặp nhiều thách thức. Những khó khăn này có thể đến từ cả phía sinh viên lẫn nhà trường.

2.1. Khó khăn trong việc thích nghi với học chế tín chỉ

Nhiều sinh viên năm nhất gặp khó khăn trong việc làm quen với phương pháp học mới. Sự thay đổi này đòi hỏi sinh viên phải tự lập và chủ động hơn trong việc học tập.

2.2. Vấn đề về cơ sở vật chất và công nghệ quản lý

Cơ sở vật chất và công nghệ quản lý chưa đáp ứng đủ yêu cầu của học chế tín chỉ. Điều này gây khó khăn cho sinh viên trong việc tiếp cận thông tin và tài liệu học tập.

III. Phương pháp nghiên cứu thái độ sinh viên về học chế tín chỉ

Để hiểu rõ hơn về thái độ sinh viên, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Phương pháp khảo sát và phỏng vấn

Khảo sát và phỏng vấn sâu là hai phương pháp chính được sử dụng để thu thập ý kiến của sinh viên năm nhất về học chế tín chỉ. Những thông tin này sẽ giúp nhà trường có cái nhìn tổng quan hơn về thái độ của sinh viên.

3.2. Phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả

Sau khi thu thập dữ liệu, việc phân tích và đánh giá kết quả là rất quan trọng. Điều này giúp xác định rõ ràng các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ sinh viên và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu thái độ sinh viên

Kết quả nghiên cứu về thái độ sinh viên có thể được ứng dụng vào thực tiễn nhằm cải thiện chất lượng đào tạo. Những thông tin này sẽ giúp nhà trường điều chỉnh phương pháp giảng dạy và quản lý đào tạo.

4.1. Đề xuất cải tiến phương pháp giảng dạy

Dựa trên thái độ của sinh viên năm nhất, nhà trường có thể điều chỉnh phương pháp giảng dạy để phù hợp hơn với nhu cầu và mong muốn của sinh viên.

4.2. Tăng cường hỗ trợ sinh viên trong quá trình chuyển đổi

Cần có các chương trình hỗ trợ sinh viên trong việc làm quen với học chế tín chỉ. Điều này sẽ giúp sinh viên tự tin hơn và dễ dàng thích nghi với phương pháp học mới.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của học chế tín chỉ

Việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ là một bước đi quan trọng trong giáo dục đại học. Thái độ sinh viên sẽ quyết định sự thành công của quá trình này. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để theo dõi và đánh giá hiệu quả của học chế tín chỉ trong tương lai.

5.1. Tương lai của học chế tín chỉ tại Việt Nam

Học chế tín chỉ có tiềm năng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có sự đầu tư và cải cách đồng bộ từ các cơ sở giáo dục.

5.2. Khuyến nghị cho các trường đại học

Các trường đại học cần lắng nghe ý kiến của sinh viên năm nhất để cải thiện chất lượng đào tạo. Việc này không chỉ giúp sinh viên mà còn nâng cao uy tín của nhà trường.

15/07/2025
Thái độ của sinh viên năm nhất trường đại học khoa học xã hội và nhân văn với việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài Trong cuộc sống đời thường hàng ngày, mỗi người chúng ta thường dùng rất nhiều từ, nhiều câu… mà chúng ta không hiểu hết ý nghĩa của chúng. Chúng ta hiểu từ đó là do kinh nghiệm thực tiễn mang lại nhưng chúng ta đâu có biết, dưới góc độ khoa học thì đưa ra một khái niệm nào đó là cả quá trình bàn luận, tranh cãi, mỗi một nhà khoa học thì có một quan điểm, một khái niệm khác nhau. Ví như từ “thái độ”, thường ngày chúng ta chỉ hiểu thái độ là cách ứng xử của ai đó…Nhưng trên phương diện khoa học thì đến nay cũng đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra và riêng đối với ngành Tâm lý học thì Thái độ là một đối tượng nghiên cứu. Bắt đầu từ năm 1935 trong cuốn “sổ tay tâm lý học xã hội” GW All Port cho rằng khái niệm thái độ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội Mỹ.

50 năm sau, năm 1985 cũng trong cuốn sổ tay tâm lý học xã hội nhưng của William. Mcguire tổng kết rằng thái độ và sự thay đổi vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thái độ là một khái niệm rất khó thống nhất. Chính vì vậy dù được nghiên cứu rất nhiều nhưng vẫn còn gây nhiều tranh cãi.1 Nghiên cứu thái độ ở Phương Tây Khi nghiên cứu lịch sử thái độ trong tâm lý học, nhà tâm lý học người Nga P.Shikhirev đã chia quá trình này thành 3 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: Từ khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai.

Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Thời kỳ thứ hai: Từ chiến tranh thế giới thứ hai cho đến cuối những năm 50. Vì lý do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trong quá 6 trình lý giải các nghịch lý nảy sinh từ khi nghiên cứu thái độ, nên ở thời kỳ này các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút kể cả về số lượng và chất lượng. Thời kỳ thứ ba: Từ cuối những năm 50 trở lại đây các nước Phương Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh.

Cùng với sự phát triển đó các công trình nghiên cứu về thái độ cũng được tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới. Vào năm 1957 có một nghiên cứu đã lý giải tại sao “hành vi lại ảnh hưởng đến thái độ của con người” là thuyết bất đồng nhận thức của Leon Festinger. Ngoài ra các nhà tâm lý học Phương Tây còn nghiên cứu, xem xét nhiều khía cạnh khác của thái độ nhất là các vấn đề về vai trò, chức năng, cấu trúc như các nghiên cứu của M. Như vậy có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỷ XX cho đến nay ở Phương Tây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ.2 Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô Trong quá trình nghiên cứu thái độ ở Liên Xô trước đây có hai học thuyết được coi là có ảnh hưởng lớn tới tâm lý học Liên Xô hơn cả là thuyết Tâm Thế của D.Uzaztze và thuyết định vị của V.

Thuyết thái độ nhân cách cho rằng nhân cách là một hệ thống thái độ. Theo tác giả phản xạ có điều kiện chính là cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người với hiện thực. Miaxisev chia thái độ ra 2 loại tiêu cực và tích cực. Cùng với các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người.

Khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ các nhà tâm lý học Xô Viết đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như một hệ thống, từ đó đưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí và chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu đã có các công trình nghiên cứu sinh viên như: - I.Bogovic (1951) nghiên cứu động cơ, thái độ học tập của học sinh nhỏ.Marcova (1983) nghiên cứu hình thành động cơ học tập của học sinh. - Machikhina và đồng tác giả nghiên cứu quan hệ giữa động cơ và thái độ học tập của học sinh, sinh viên. 7 Ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức trước đây cũng có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thái độ do một số nhà tâm lý học xã hội như V.

Ngoài những vấn đề nghiên cứu một cách truyền thống thì các nhà tâm lý học Đức còn đề cập nhiều vấn đề khác như các cơ chế hình thành thái độ, sự định hình thái độ do M.Worwery và đồng nghiệp thực hiện. Trong lĩnh vực kinh tế một số công trình nghiên cứu đã xem thái độ như là thành tố của năng suất tập thể.3 Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam. Khi nghiên cứu các thành tựu của tâm lý học thế giới và thực tiễn tâm lý học nước nhà, các nhà tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập. Mục tiêu của giáo dục là hình thành ở người học có đủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, có văn hóa, có thái độ ứng xử hài hòa với môi trường sống, trong quá trình học tập và với bản thân mình.

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu thái độ của học sinh, sinh viên còn chưa được triển khai rộng, mới chỉ đạt dược một số kết quả bước đầu như xác định vị trí, vai trò của thái độ. Nghiên cứu thái độ của sinh viên qua nghiên cứu hứng thú học tập, định hướng giá trị. Thái độ và đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên 1.1 Khái niệm về Thái độ. Cũng đã có nhiều khái niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các nhà Tâm lý., mỗi một nhà nghiên cứu, đứng dưới góc độ, khía cạnh khác nhau thì có các khái niệm về thái độ khác nhau.

Khái niệm thái độ lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1918. Hai nhà Tâm lý học người Mỹ là W.Zaniecki cho rằng: “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không có hành động khác mà được xã hội chấp nhận”, “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị”. Nhà Tâm lý học người Mỹ khác là G. Allport năm 1935 định nghĩa: “ Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối 8 với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ”.

Nhà Tâm lý học Newcom đã định nghĩa: “Thái độ chính là một thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân đến một đối tượng hay sự việc có liên quan”. Fillmore định nghĩa: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay biểu tượng trong môi trường”.Kalat định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người”. John Traven định nghĩa: “Thái độ là cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó”. Trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản năm 1996 tại New York cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định, bền vững do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định.

Không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao. Một thái độ được nhận thức ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng, trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”. Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa: “Thái độ là cách thừa nhận, hành động của cá nhân về một phương hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”.

Trong từ điển Xã Hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh “Tâm thế - thái độ xã hội đã được củng cố có cấu trúc phức tạp bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”. Trong từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa: “Thái độ là mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩa, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ hành động hoặc thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào trước sự việc, vấn đề gì, xác định thái độ học tập đúng đắn”.2 Khái niệm về sinh viên Sinh viên là những người đang học, đang được đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng. Hiện nay ở nước ta, muốn trở thành sinh viên phải có đủ các điều kiện quy định theo quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng do nhà nước ban hành và phải trải qua một kì thi tuyển sinh quốc gia. Về độ tuổi theo các nhà tâm lý học, phần lớn sinh viên ở lứa tuổi thanh niên giai đoạn 2 (từ 18 đến 25 tuổi).

Quá trình nhận thức, tư tưởng, hình thành nhân cách, sự phát triển về tâm sinh lý, nhu cầu, sở thích, phong cách, lối sống của họ lại có nhiều điểm khác với các thế hệ lớn tuổi.3 Đặc điểm Tâm Sinh lý của sinh viên  Đặc điểm sinh học (thể chất) Theo các nhà sinh lý học, đến tuổi 25 thì sự phát triển của con người về mặt thể chất cũng tương đối hoàn thiện. Việc phân chia giai đoạn với các tên gọi chỉ có ý nghĩa tương đối. Đây là giai đoạn mà về mặt thể chất con người dần dần hoàn thiện thể hiện ở chỗ đến độ tuổi 25, trọng lượng của não đạt đến mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao nhất (14-16 tỉ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thái độ sinh viên năm nhất về chuyển đổi sang học chế tín chỉ" khám phá những cảm nhận và quan điểm của sinh viên năm nhất về việc chuyển đổi sang hệ thống học chế tín chỉ. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thái độ của sinh viên đối với sự thay đổi trong phương pháp học tập mà còn chỉ ra những lợi ích mà học chế tín chỉ mang lại, như sự linh hoạt trong việc lựa chọn môn học và khả năng tự quản lý thời gian học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các môn học thuộc khối kiến thức chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở đại học quốc gia hà nội. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về những thay đổi trong giáo dục đại học hiện nay.

Khám phá thêm những tài liệu liên quan sẽ giúp bạn nắm bắt được nhiều khía cạnh khác nhau của học chế tín chỉ và những ảnh hưởng của nó đến sinh viên.