Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tạo nguồn bền vững cho xuất khẩu thủy sản đối với một quốc gia Chương 2: Thực trạng mức độ bền vững trong tạo nguồn hàng cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tạo nguồn bền vững cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TẠO NGUỒN BỀN VỮNG CHO XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIA 1. Tầm quan trọng của tạo nguồn bền vững cho xuất khẩu đối với một quốc gia 1. Quan niệm về tạo nguồn hàng cho xuất khẩu thủy sản Khái niệm nguồn hàng Nguồn hàng là thuật ngữ cơ bản trong kinh tế, tùy thuộc từng lĩnh vực, từng chuyên ngành mà có những định nghĩa khác nhau. Theo khái niệm nguồn hàng được sử dụng nhiều nhất hiện nay: “Nguồn hàng là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hóa thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch (thường là kế hoạch năm)” (Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại, NXB Lao động – Xã hội, trang 237).
Đối với bất kỳ quốc gia nào, hay bất kỳ doanh nghiệp nào, để có nguồn hàng tốt và ổn đinh, đều phải tổ chức tốt công tác tạo nguồn.Không chỉ để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mà còn phải đáp ứng đủ, kịp thời, đúng chất lượng, quy cách… và hạn chế lượng hàng tồn đọng. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và sự biến động nhanh, mạnh các nhu cầu trên thị trường việc tạo nguồn hàng càng đòi hỏi phải nhanh, nhạy, phải có tầm nhìn xa, quan sát rộng và thấy được xu hướng phát triển của nhu cầu khách hàng. Tạo nguồn hàng là công việc phải đi trước một bước, bởi lẽ khi nhu cầu của khách hàng xuất hiện, nhà cung cấp đã có hàng ở các điểm cung ứng để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng. Do đó, điểm bắt đầu của công tác tạo nguồn hàng là việc nghiên cứu và xác định nhu cầu của khách hàng về khối lượng, cơ cấu mặt hàng, quy cách, cỡ loại, màu sắc, thoài gian, địa điểm mà khách hàng có nhu cầu, phải nắm đước khách hàng cần hàng để làm gì và đồng thời phải chủ động nghiên cứu và tìm hiểu khả năng của các đơn vị sản xuất ở trong nước, ở thị trường nước ngoài (khu vực và thế giới) để tìm nguồn hàng, để đặt hàng, để ký kết hợp đồng mua hàng.
Bên cạnh đó, 8 cũng cần phải có các biện pháp cần thiết để tạo điều kiện và tổ chức thực hiện tốt việc đặt hàng, mua hàng, vận chuyển, giao nhận, phân phối hàng về các điểm cung ứng phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng. Khái niệm tạo nguồn Tạo nguồn hàng là toàn bộ các hình thức, phương thức, điều kiện của doanh nghiệp thương mại tác động đến lĩnh vực sản xuất, khai thác, nhập khẩu… để tạo ra nguồn hàng phù hợp với nhu cầu của khách hàng để doanh nghiệp thương mại có nguồn hàng cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng, quy cách, mẫu mã …cho khách hàng. Tạo nguồn hàng là hoạt động nghiệp vụ kinh doanh bao gồm nhiều khâu: xuất phát từ nhu càu hàng hóa của khách hàng, nhà cung cấp phải chủ động chuẩn bị các nguồn lực để tạo ra loại hàng hóa phù hợp với yêu cầu của khách hàng, có chất lượng hàng hóa tốt, có giá cả hợp lý, cung ứng đầy đủ, kịp thời và đúng địa bàn mà khách hàng yêu cầu. Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động, khả năng tài chính cũng như trình độ khoa học kỹ thuật của nhà cung cấp mà yêu cầu có sự hợp tác, hỗ trợ của các đơn vị kinh doanh khác là khác nhau.
Đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản ở nước ta, muốn khai thác các tiềm năng luôn cần có sự hợp tác, hỗ trợ của các đơn vị kinh doanh thương mại về giống, vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ và các điều kiện hậu cần như bao bì, kho tàng, vận tải… và có sự phối hợp với các tổ chức khác (Ngân hàng, khoa học công nghệ, các cấp quản lý…) thì mới tạo ra được nguồn hàng lớn, phong phú, đa dạng để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về số lượng cũng như chất lượng hàng hóa, các nhà cung cấp thường sử dụng các hình thức tạo nguồn sau: + Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng mua bán hàng hóa Đây là một hình thức chủ động, có kế hoạch trong việc tạo nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại.Nó đảm bảo sự ổn định, chắc chắn cho cả người sản xuất và cả đơn vị kinh doanh.Nó là hình thức mua bán có sự chuẩn bị trước, một hình thức văn minh, khoa học. Vì vậy, cần quan tâm, theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ và hợp 9 tác chặc chẽ với các đơn vị nguồn hàng để thực hiện đúng đơn hàng và hợp đồng mua bán đã ký kết. + Mua hàng không theo hợp đồng mua bán Đây là hình thưc smua bán hàng trên thị trường không có kế hoạch trước, mua không thường xuyên, thấy rẻ thì mua… Với hình thức mua hàng này, người mua hàng phải có trình độ kỹ thuật – nghiệp vụ mua hàng thông thạo, phải có kinh nghiệm và phải đặc biệt chú ý kiểm tra kỹ mặt hàng về số lượng, chất lượng, quy cách, cỡ loại, màu sắc, kỳ hạn sử dụng, phụ tùng… để đảm bào hàng mua về có thể bán được.
+ Mua hàng qua đại lý Ở những nơi tập trung nguồn hàng, doanh nghiệp thương mại có thể đặt mạng lưới mua trực tiếp.Còn ở những khu vực có nguồn hàng nhỏ lẻ, không tập trung, doanh nghiệp cso thể mua hàng thông qua đại lý. Tùy theo tính chất kỹ thuật và đặc điểm của mặt hàng thu mua, doanh nghiệp thương mại có thể chọn các đại lý theo các hình thức đại lý độc quyền, đại lý rộng rãi, hoặc đại lý lựa chọn. + Nhận bán hàng ủy thác và bán hàng ký gửi Với các doanh nghiệp có mạng lưới bán hàng rộng rãi, quy mô lớn hoặc có cả bộ phận xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài có thể nhận bán hàng ủy thác và bán hàng ký gửi.Khi nhận bán hàng ủy thác hoặc bán hàng ký gửi, doanh nghiệp cso thêm các nguồn hàng mới, phong phú hơn, đáp ứng được nhu cầu đa dạng, nhiều vẻ của khách hàng và tận dụng được cơ sở vật chất và lao động ở doanh nghiệp; đồng thời lôi kéo được nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp. + Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng Có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, có tiềm năng tạo ra nguồn hàng tốt, nhưng bị thiếu một số các yếu tố như vốn, nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ… làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh cũng như không nâng cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Các doanh nghiệp thương mại có thể tận dụng lợi thế của mình về vốn, nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ… để liên 10 doanh, liên kết với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để tổ chức sản xuất, tạo nguồn hàng lớn, chất lượng tốt hơn để cung ứng ra thị trường. + Gia công đặt hàng và bán nguyên liệu thu mua sản phẩm Bán nguyên liệu và thu mua thành phẩm là hình thức tạo nguồn hàng chủ động hơn của người sản xuất. Người sản xuất mua nguyên vật liệu và chủ động tiến hành sản xuất ra hàng hóa và ký hợp đồng bán hàng hóa cho người đã bán nguyên liệu cho mình.Với hình thức này, người tiến hành sản xuất kinh doanh có lợi hơn và có quyền chủ động hơn. Người kinh doanh thương mại không phải lo ngueyen vật liệu, kiểm tra, kiểm soát ở người sản xuất, nhưng lợi nhuận thu được sẽ không cao như hình thức gia công đặt hàng.
+ Tự sản xuất, khai thác hàng hóa Với doanh nghiệp thương mại có nguồn vốn dồi dào, có nguồn nguyên vật liệu, có các nguồn lực có thể tự sản xuất, khai thác nguồn hàng để đưa vào kinh doanh.Đầu tư vào sản xuất, khai thác thì doanh nghiệp thương mại có nguồn hàng vững chắc, vừa đảm bảo được lợi ích của người sản xuất, vừa đảm bảo lợi ích của người kinh doanh. Tuy nhiên, đầu tư vào sản xuất, khai tác, đòi hỏi nguồn vốn lớn, vòng quay vốn dài, sinh lợi chậm và đặc biệt phải có sự hiểu biết về công nghệ mới tiên tiến, hiện đạ và xu hướng phát triển của nó. Xuất khẩu thủy sản Hoạt động giao thương giữa các quốc gia trên thế giới đã xuất hiện từ xa xưa, nhưng chỉ được hiểu đơn thuần là hoạt động trao đổi hàng hóa.Một trong số đó, sau này đã được định nghĩa trong Kinh tế học, trở thành một thuật ngữ kinh tế là hoạt động xuất khẩu.Có thể nói, xuất khẩu là hoạt động ngoại thương đầu tiên giữa các quốc gia trên thế giới nhằm khai thác lợi thế của mình với các quốc gia khác.Trải qua nhiều năm đến nay xuất khẩu vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động ngoại thương của mỗi quốc gia.Vậy xuất khẩu là gì? Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác, còn dưới 11 giác độ phi kinh doanh (làm quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia.
Xuất khẩu là hình thức xâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất.Với các nước có trình độ kinh tế thấp như các nước đang phát triển thì xuất khẩu đóng vai trò rất lớn đối với nền kinh tế và đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu.Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Hiện nay, Việt Nam đang khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có như than, dầu mỏ… và sản xuất một số sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh như quần áo, gia giày, chế biến thủy sản… để xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Trong đó, ngành thủy sản là một trong những ngành đang được chú trọng, bởi nhu cầu lương thực của thế giới ngày càng tăng cao. Thủy sản đóng vai trò quan trọng trong an ninh thực phẩm toàn cầu và nhu cầu dinh dưỡng của người tiêu dùng tại các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.
Hiện nay, xuất khẩu thủy sản trên thế giới tăng cả về khối lượng và giá trị phản ánh xu thế toàn cầu hóa trong chuỗi giá trị thúy sản.