phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại BQL DALĐ Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại BQL DALĐ 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG THÔNG QUA THÙ LAO TÀI CHÍNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu và lợi ích Nhu cầu Theo nghiên cứu Maslow, A. (2007) cho rằng: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển”.
Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thƣờng là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh cá nhân và xã hội. Theo Nguyễn Thị Hoài Hƣơng (2016) và Vũ Phƣơng Tú (2019), có thể chia nhu cầu thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Trong đó, nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con ngƣời. Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý.
Ngày nay với xu hƣớng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu cầu của nhân viên là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của nhân viên; tạo môi trƣờng làm việc thuận lợi để nhân viên yên tâm làm việc, cống hiến cho tổ chức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm về nhu cầu của Vũ Phƣơng Tú (2019): “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người mong muốn thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng 9 nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội.” Lợi ích Kearney, E. (2009) cho rằng, lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận đƣợc từ tổ chức. Lợi ích là một sự biểu hiện khác của nhu cầu.
Lợi ích là kết quả mà con ngƣời nhận đƣợc qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách hiểu của Đặng Quang Định (2012): “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định. Động cơ và động lực lao động Động cơ Theo Nguyễn Hữu Thụ (2017): Động cơ là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể. Động cơ gắn liền với nhu cầu của con ngƣời và hoạt động của mỗi “cá nhân là thỏa mãn những nhu cầu bản thân họ.
Nhu cầu của con ngƣời khá đa dạng, tùy theo trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý mà mỗi ngƣời có nhu cầu khác nhau, đồng thời nhu cầu của mỗi ngƣời không ổn định, hay biến đổi, theo thời gian sẽ phát sinh thêm nhiều nhu cầu mới, tựu chung ở hai nhóm: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Thỏa mãn đƣợc các nhu cầu này của con ngƣời sẽ tạo ra động cơ, động lực lao động, thúc đẩy con ngƣời hoạt động, làm việc. Việc tìm hiểu để nắm đƣợc động cơ làm việc của NV và tạo điều kiện hiện thực hóa những động cơ chính đáng của họ là một yêu cầu trong hoạt động quản lý của ngƣời lãnh đạo. 10 Động lực lao động Trong bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn ngƣời lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu quả cao để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có những ngƣời lao động làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhƣng cũng có những ngƣời lao động làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu tập trung, kết quả thực hiện công việc thấp.” Để trả lời cho vấn đề này, các nhà kinh tế học cho rằng đó chính là động lực lao động của mỗi cá nhân ngƣời lao động, và thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động nhƣ sau: “Động lực là lý do để thực hiện hành vi” hay “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó”. Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu về quản lý nguồn nhân lực hay hành vi tổ chức, động lực đƣợc hiểu là sự khao khát và tự nguyện của con ngƣời nhằm đạt đƣợc mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó. “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao. TheoTrần Kim Dung (2018): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Theo Trần Thị Thu & Vũ Hoàng Ngân (2013): “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Hai quan điểm trên đều có quan điểm chung rằng động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động, của nhân viên để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Do đó, 11 muốn con nguời có động lực, nhà quản lý cần tạo cho nguời lao động lợi ích để thúc đẩy họ làm việc và hoàn thành tốt công việc, mục tiêu mà tổ chức đặt ra.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, động lực lao động đƣợc hiểu nhƣ sau: “Động lực lao động là sự thôi thúc tự nguyện bên trong của mỗi người để nỗ lực thực hiện các mục tiêu của mình đã đề ra, cũng như mục tiêu chung của tổ chức.” Bản chất của động lực lao động gồm những điểm sau: - “Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trƣờng làm việc cụ thể. Nhƣ vậy, phải hiểu rõ về công việc và môi trƣờng làm việc thì nhà quản lý mới có thể đƣa ra các biện pháp tạo động lực cho ngƣời lao động. - Các nhà quản lý cần phải có nghệ thuật để tạo ra động lực lao động cho ngƣời lao động, làm cho họ tăng cƣờng tính tự giác, tự nguyện trong công việc nhằm thu đƣợc kết trả tốt nhất khi thực hiện công việc vì động lực lao động luôn mang tính tự nguyện. Nếu nhân viên bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lƣợng công việc không cao.
- Động lực không phải đặc tính cá nhân. Con ngƣời khi sinh ra không ai có sẵn tính cách này, nó không phải cố hữu mà thƣờng xuyên thay đổi. Tùy từng thời kỳ mà mỗi ngƣời có thể có động lực lao động rất cao hoặc động lực chƣa chắc tồn tại. - Động lực lao động sẽ dẫn đến tăng năng suất cá nhân và sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn trong điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc chứ không phải nhân tố tất yếu dẫn tới tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả công việc vì điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhƣ trình độ, tay nghề, phƣơng 12 tiện lao động… Trên thực thế ngƣời lao động không có động lực lao động họ vẫn có thể hoàn thành công việc vì họ có trình độ tay nghề và nghĩa vụ phải làm việc nên vẫn hoàn thành công việc của mình nhƣng kết quả công việc không phản ánh hết năng lực của họ và những ngƣời này thƣờng có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Tạo động lực lao động Theo Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hƣơng (2013): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc”. Chi tiết hơn, tạo động lực cho ngƣời lao động đƣợc hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản lý áp dụng cho ngƣời lao động nhằm tạo ra động cơ cho họ nhƣ: “mục tiêu vừa phù hợp với doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích cho ngƣời lao động. Nhƣng để đề ra những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của ngƣời lao động, tạo cho ngƣời lao động sự hăng say sáng tạo, làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của ngƣời lao động sẽ là gì.
Đối với ngƣời lao động, quá trình lao động ở tổ chức luôn có hƣớng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Do vậy tinh thần thái độ và tính tích cực của họ có xu hƣớng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm lối thoát là đi khỏi tổ chức. Để tác động làm cho ngƣời lao động luôn hăng hái, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao thì tổ chức phải sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động. Việc dự đoán hành động của ngƣời lao động là hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua nhận biết động cơ và nhu cầu trong lao động của họ.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm tạo động lực cho ngƣời” lao động là “Tạo động lực lao động chính là sử dụng 13 những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình. Thù lao tài chính Theo Lê Thanh Hà (2012): “Thù lao lao động là tất cả các khoản mà người lao động nhận được từ phía người sử dụng lao động thông qua việc bán sức lao động của họ với tổ chức”. Thù lao bao gồm mọi hình thức lợi ích về tài chính, phi tài chính và những dịch vụ đích thực mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng trong quá trình làm thuê. Thù lao đƣợc chia thành thù lao trực tiếp (đƣợc trả trực tiếp bằng tiền) và thù lao gián tiếp (trả bằng các dịch vụ hay tiền thƣởng).