phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, cấu trúc đề án gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho Ngƣời lao động tại VAECO - chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 3: Các giải pháp tạo động lực làm việc cho Ngƣời lao động. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1.1 Nhu cầu Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về một cái gì đó, và họ mong muốn đƣợc đáp ứng.
Điều này có thể bao gồm nhu cầu về thức ăn, an toàn, tình yêu, tự trọng, và nhiều yếu tố khác [1]. Học thuyết nhu cầu của Maslow đƣợc đề xuất bởi nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Abraham Maslow vào năm 1954 trong cuốn sách "Motivation and Personality" là một trong những học thuyết quan trọng và có ảnh hƣởng lớn trong nhiều lĩnh vực nhƣ quản lý, tâm lý học và giáo dục. Theo học thuyết này, Maslow mô tả nhu cầu của con ngƣời dƣới dạng bậc thang, từ nhu cầu cơ bản nhất đến các nhu cầu cao hơn. Cụ thể: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu tự trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1 Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu cơ bản và cấp thiết nhất của con ngƣời, bao gồm việc ăn uống, ngủ đủ giấc, có không gian để thở, và nhu cầu tình dục.
Đây là những yếu tố không thể thiếu để duy trì sự sống và cảm thấy thoải mái. Trong hình kim tự tháp của Maslow, nhu cầu này thƣờng đƣợc đặt ở bậc thấp nhất của bậc thang nhu cầu. Điều này ngụ ý rằng trƣớc khi con ngƣời có thể chú ý đến các nhu 4 cầu cao hơn nhƣ nhu cầu xã hội, tự trọng và tự hoàn thiện, họ cần phải đảm bảo rằng những nhu cầu cơ bản nhất đã đƣợc đáp ứng đầy đủ. Nhu cầu an toàn: khi các nhu cầu sinh lý đã đƣợc đáp ứng, con ngƣời sẽ tập trung vào các nhu cầu an toàn và an ninh.
Nhu cầu an toàn và an ninh thể hiện sự mong muốn của con ngƣời đƣợc bảo vệ sự sống còn của mình khỏi các nguy cơ và nguy hiểm. Điều này có thể bao gồm sự an toàn về mặt vật chất nhƣ: không gian sống an toàn, bảo hiểm, sức khỏe, cũng nhƣ sự an toàn tinh thần: cảm giác ổn định và sự yên bình trong cuộc sống. Nhu cầu này thƣờng đƣợc thể hiện qua mong muốn sống trong một môi trƣờng an ninh, có luật pháp bảo vệ, cũng nhƣ sự ổn định trong các mối quan hệ xã hội và gia đình. Con ngƣời có thể tìm đến sự an toàn và an ninh qua việc tìm kiếm sự che chở từ gia đình, bạn bè, cũng nhƣ qua các niềm tin tôn giáo hoặc triết học.
Trong tình huống khẩn cấp và nguy hiểm, nhu cầu an toàn và an ninh thƣờng trở nên rõ ràng và ảnh hƣởng mạnh mẽ đến hành vi và quyết định của con ngƣời, khi họ cố gắng bảo vệ bản thân và những ngƣời thân yêu khỏi các nguy cơ và mối đe dọa. Nhu cầu xã hội: nhu cầu về mối quan hệ xã hội, tình bạn và tình thƣơng. Nhu cầu này thể hiện qua các hành vi giao tiếp nhƣ: tìm kiếm và xây dựng các mối quan hệ, kết bạn, tìm kiếm ngƣời yêu, lập gia đình, tham gia vào các cộng đồng, tham gia vào các hoạt động nhóm nhƣ đi picnic, tham gia các câu lạc bộ hoặc làm việc nhóm. Đây là một phần quan trọng của bản chất xã hội của loài ngƣời, đƣợc hình thành từ những ngày đầu của lịch sử nhân loại.
Mặc dù Maslow xếp nhu cầu này sau các nhu cầu về sinh lý và an toàn, nhƣng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không đƣợc đáp ứng, nó có thể gây ra các vấn đề tinh thần và thần kinh nghiêm trọng. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng những ngƣời sống độc thân thƣờng có nguy cơ cao hơn về các vấn đề sức khỏe về tiêu hóa, thần kinh và hô hấp so với những ngƣời sống trong môi trƣờng gia đình. Sự cô đơn có thể ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tâm trạng và sức khỏe của con ngƣời, và có thể gây ra các vấn đề về tinh thần và thể chất. Điều này thể hiện rõ rằng mối quan hệ xã hội và tình thƣơng là một phần quan trọng của cuộc sống và sức khỏe toàn diện của con ngƣời.
5 Nhu cầu tự trọng: là sự mong muốn của con ngƣời đƣợc công nhận và tôn trọng bởi ngƣời khác, cũng nhƣ tự cảm nhận, quý trọng và có lòng tự trọng trong bản thân. Nhu cầu tự trọng có thể đƣợc chia thành hai cấp độ: Nhu cầu đƣợc ngƣời khác quý mến và tôn trọng thông qua các thành tựu và đạt đƣợc của bản thân. Điều này bao gồm việc nhận đƣợc sự công nhận và đánh giá từ ngƣời khác về thành công, kỹ năng và khả năng cá nhân. Nhu cầu cảm nhận và quý trọng chính bản thân, có lòng tự trọng và tự tin vào khả năng của mình.
Điều này liên quan đến việc xác định giá trị bản thân, tự tin và tự tin vào khả năng để đối mặt và vƣợt qua thách thức trong cuộc sống. Nhu cầu tự hoàn thiện: hay còn gọi là nhu cầu tự thực hiện, là đỉnh cao của hệ thống nhu cầu của Maslow. Đây là nhu cầu của con ngƣời mong muốn đƣợc thực hiện và phát triển hết tiềm năng, khả năng của mình để đạt đƣợc sự tự thể hiện và tự khẳng định. Nhu cầu tự hoàn thiện thúc đẩy con ngƣời theo đuổi các mục tiêu cá nhân, phát triển kỹ năng và tài năng của mình, và tìm kiếm ý nghĩa và sự đóng góp trong cuộc sống.
Đạt đƣợc nhu cầu này có thể mang lại cảm giác hài lòng, sự thỏa mãn và ý nghĩa trong cuộc sống. Theo Maslow, để tạo động lực lao động cho nhân viên, ngƣời quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang có nhu cầu ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và đƣa họ vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở thứ bậc đó [3]. Một số nhà nghiên cứu đã phát triển các thang đo hoặc bảng đánh giá dựa trên học thuyết nhu cầu của Maslow để đánh giá và đo lƣờng mức độ động lực của nhân viên trong các tổ chức và doanh nghiệp nhƣ Trƣơng Minh Đức (2011) với đề tài: “Ứng dụng mô hình định lƣợng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên Công ty TNHH ERICSSON tại Việt Nam” cho thấy nhu cầu vật chất, điều kiện cơ sở vật chất, mối quan hệ với đồng nghiệp, vị trí trong tổ chức tác động lớn nhất đến động lực làm việc nhƣng lại không đƣợc coi trọng ở công ty [4].2 Động lực làm việc Động lực làm việc là mục đích chủ quan của con ngƣời thúc đẩy họ hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra. Động lực làm việc đóng vai trò quan 6 trọng trong việc kích thích sự nỗ lực lao động của con ngƣời, giúp họ đạt đƣợc mức độ năng suất và hiệu quả cao nhất có thể.
Có hai loại động lực làm việc chính là: - Động lực từ bên ngoài: Loại động lực đƣợc tạo ra bởi yêu cầu hoặc sự ảnh hƣởng từ bên ngoài, thƣờng do ngƣời sử dụng lao động (nhà quản lý, công ty) đề xuất. Điều này có thể bao gồm các yếu tố nhƣ: lƣơng thƣởng, chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến, hoặc áp lực từ sự quản lý. - Động lực từ bên trong: Loại động lực này xuất phát từ bên trong bản thân cá nhân, dựa trên sự hài lòng cá nhân và niềm đam mê với công việc. Những ngƣời có động lực từ bên trong thƣờng là những ngƣời yêu thích và cam kết với công việc của mình, và họ thƣờng là những nhân viên có hiệu suất làm việc cao và đạt đƣợc kết quả xuất sắc.
Động lực từ bên ngoài có thể kích thích sự làm việc tạm thời, nhƣng động lực từ bên trong thƣờng mang lại sự cam kết và bền vững hơn. Do đó, việc tạo điều kiện để khuyến khích và phát triển động lực từ bên trong là một yếu tố quan trọng trong việc quản lý nhân sự và tăng cƣờng hiệu suất làm việc trong tổ chức [2]. Hoàng Thị Lộc và Nguyễn Quốc Nghi (2014) với đề tài: “Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam” chỉ ra rằng trong bối cảnh ngân sách chi trả cho cán bộ, công chức đang là một gánh nặng, thì việc dùng lƣơng, thƣởng để thúc đẩy ngƣời lao động là không hợp lý; tuy nhiên, lãnh đạo có thể tạo cơ hội thăng tiến, học tập bồi dƣỡng, xây dựng môi trƣờng làm việc đoàn kết, tƣơng trợ lẫn nhau nhằm nâng cao động lực làm việc của nhân viên [5].3 Yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc Để đề ra đƣợc các biện pháp, chính sách phù hợp với nhu cầu của ngƣời lao động, từ đó tạo động lực cho ngƣời lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc các yếu tố tác động chính đến động lực làm việc. - Yếu tố thuộc về bản thân ngƣời lao động Mục tiêu cá nhân: Mục tiêu cá nhân quyết định hƣớng đi và sự cống hiến của mỗi ngƣời trong công việc.
Sự phù hợp giữa mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức cực kỳ quan trọng để đảm bảo sự đồng thuận và cống hiến. 7 Khả năng và năng lực: Việc phát huy tốt nhất khả năng và năng lực của mỗi ngƣời yêu cầu sự phân công công việc phù hợp, cung cấp cơ hội phát triển và đào tạo. Đặc điểm tính cách: Tính cách của mỗi ngƣời ảnh hƣởng đến cách họ tiếp cận và thực hiện công việc. Việc hiểu rõ tính cách của nhân viên giúp nhà quản lý tạo điều kiện làm việc phù hợp và tận dụng những thế mạnh của họ.
Ý chí và đạo đức: Những phẩm chất nhƣ ý chí và đạo đức ảnh hƣởng đến khả năng tự chủ, động viên bản thân và đạo đức làm việc của mỗi cá nhân, tạo nên nền tảng cho sự hiệu quả trong công việc. - Yếu tố môi trƣờng lao động Môi trƣờng lao động bao gồm một loạt các yếu tố quan trọng có ảnh hƣởng đến trải nghiệm làm việc của nhân viên. Đó là: Văn hóa doanh nghiệp: Văn hóa tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi trƣờng làm việc tích cực.