CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHÈ 1.1 Tổng quan nghiên cứu Qua quá trình học tập tích lũy kiến thức ở trường và theo dữ liệu tìm kiếm của tác giả tại các thư viện, các website cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài, bài viết nói về tạo động lực cho người lao động. Điều này chứng tỏ tạo động lực đang ngày càng được quan tâm trong các trường đại học, cao đẳng, doanh nghiệp trở thành đề tài luôn nóng hổi trên các diễn đàn thông tin và nghiên cứu quốc tế chẳng hạn như: Ở Mỹ việc thăng chức không bị ảnh hưởng bởi số năm thâm niêm mà tùy thuộc vào thành tích. Thành tích được đánh giá một cách khách quan, khoa học và cụ thể bằng số điểm theo tiêu chuẩn. Khuynh hướng đánh giá nhân viên qua hiệu quả của công việc, qua năng lực và thành tích của nhân viên hơn là xét thâm niên hiện nay đang ngày càng được nhiều công ty tại Nhật Bản Ngoài ra trong bài nghiên cứu này tác giả đã tham khảo đến một số tài liệu có liên quan đến việc thúc đẩy động cơ làm việc của cán bộ công nhân viên như: - Các văn bản pháp luật về giáo dục và đào tạo (2010) - Quyết định Chế độ làm việc đối với giảng viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo).
Ngoài những văn bản cũng như các chính sách như trên, trong luận văn còn sử dụng một số bài nghiên cứu trước đây có liên quan mật thiết đến đề tài như: - Đỗ Thị Thu (2008), Luận văn thạc sĩ kinh tế. “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH Cửa sổ nhựa Châu Âu (EUROWINDOW CO, LTD)”. Luận văn đã phân tích được thực trạng các biện pháp kích thích vật chất và tinh thần cho người lao động, làm rõ các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tạo động lực lao động tại Công ty từ đó đưa ra các giải pháp. Tuy nhiên, các biện pháp tạo động lực đưa ra phân tích mới chỉ tập trung vào biện pháp kích thích vật chất là chính sách lương, thưởng, phúc lợi; biện pháp kích thích tinh thần mới chỉ phân tích đến các 4 z yếu tố bố trí phân công công việc, sự quan tâm của lãnh đạo và điều kiện làm việc; các hoạt động khác như đào tạo, đánh giá thực hiện công việc, phân tích công việc, đề bạt thăng tiến… chưa được đánh giá để đưa ra bức tranh tổng thể về công tác tạo động lực lao động tại Công ty.
Tác giả cũng chưa đánh giá được được các nhu cầu của người lao động và mức độ quan trọng của các nhu cầu để từ đó có các biện pháp tạo động lực phù hợp trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu hợp lý của người lao động. - Mai Quốc Bảo (2010), Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại Tổng công ty Xi măng Việt Nam”. Luận văn đã có tiến hành điều tra khảo sát nhu cầu và mức độ ưu tiên của các nhu cầu của người lao động; đưa ra các biện pháp tạo động lực trên cơ sở thỏa mãn các nhu cầu của người lao động. Luận văn phân tích khá đầy đủ sự tác động của các chính sách quản trị nhân lực lên từng nhóm đối tượng khác nhau (theo tuổi, giới tính, chức danh công việc, đơn vị thành viên.
Tuy nhiên, luận văn lại chưa phân tích sâu đến khía cạnh phong cách lãnh đạo, sự hỗ trợ của cấp quản lý đối với người lao động trong thực hiện công việc, trong đó có hoạt động thiết lập mục tiêu làm việc cho nhân viên. Trong khi đó phong cách, phương pháp, sự quan tâm của người quản lý sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến động lực làm việc của nhân viên. - Võ Thị Hà Quyên (2013) về “ Tạo động lực cho người lao động tại công ty Cổ phần dệt may 29/3” đã đánh giá được thực trạng sử dụng một số công cụ tạo động lực cho người lao động tại công ty Cổ phần 29/3 theo Mô hình 2 yếu tố của Herzberg như: Công cụ thù lao, bản thân công việc, môi trười và điều kiện làm việc, đào tạo và nâng cao trình độ, đánh giá thực hiện công việc, cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng đã đưa ra được giải pháp hoàn thiện các công cụ trên.
Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra chỉ có giá trị cho người lao động trong công ty Cổ phần dệt may 29/3 chứ không có giá trị cho người lao động tại các đơn vị khác đặc biệt là giảng viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa. Trịnh Thị Hồng Vân (2012) về “Giải pháp tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên tại trường Cao đẳng Phương Đông – Đà Nẵng” đã cho thấy hệ thống các công cụ tạo động lực làm việc cho giảng viên và giải pháp tạo động lực cho giảng viên tại trường Cao đẳng Phương Đông – Đà Nẵng. 5 z Đúc rút kinh nghiệm từ những đề tài trên, tác giả luận văn có định hướng nghiên cứu hoạt động tạo động lực cho người lao động các trường Cao đẳng Nghề dựa trên cơ sở lý thuyết là mô hình kết hợp các công cụ tạo động lực làm việc theo tính chất sau: Động lực làm việc bao gồm các công cụ kinh tế, công cụ tâm lý giáo dục, công cụ tổ chức hành chính Mặc khác, việc nghiên cứu vấn đề tạo động lực cho giảng viên là một vấn đề mới ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa vẫn chưa có tác giả nào thực hiện. Vì vậy em mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực thực thực tiễn đã và đang đặt ra.2 Động lực làm việc của giảng viên các trường cao đẳng nghề 1.1 Đặc điểm của các trường cao đẳng nghề Trường cao đẳng nghề là cơ sở dạy nghề theo hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động về số lượng, chất lượng, cơ cấu vùng miền, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo.
Trường cao đẳng nghề là đơn vị sự nghiệp có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. 1) Trường Cao đẳng nghề đào tạo chủ yếu trình độ cao đẳng đối với các ngành, nghề do bộ LĐ – TBXH quy định. Ngoài ra còn tham gia đào tạo trung cấp và sơ cấp nghề đáp ứng nhu cầu người học và nhu cầu thực tiễn. Người học cao đẳng nghề ngoài việc có đủ trình độ kiến thức, lý luận, hiểu biết xã hội… của trình độ cao đẳng đồng thời có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề cao.
Người tốt nghiệp trình độ cao đẳng có thể tham gia lao động sản xuất trực tiếp và có thể tham gia công tác quản lý sản xuất. 2) Trường Cao đẳng nghề khác với trường Cao đẳng chuyên nghiệp là chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao, thời gian học sinh tham gia học thực hành nâng cao tay nghề nhiều hơn nhiều lần so với cao đẳng chuyên nghiệp. Nói cách khác, trường cao đẳng chuyên nghiệp đào tạo theo hướng hàn lâm còn trường cao đẳng nghề đào tạo theo hướng thực hành. 6 z 3) Hiện nay ở Việt Nam có 2 loại trường cao đẳng nghề là Cao đẳng nghề tư thục và cao đẳng nghề công lập.
+ Trường Cao đẳng nghề công lập được thành lập từ hai hình thức: Thành lập mới (Do tại địa phương nơi trường thành lập chưa từng có trường đào tạo công nhân kỹ thuật hoặc tương tự) và nâng cấp từ trường Công nhân kỹ thuật hoặc trung cấp chuyên nghiệp. Loại trường Cao đẳng nghề này do cơ quan chính quyền tỉnh trực tiếp quản lý (Sở LĐ – TBXH) dưới sự chỉ đạo, định hướng, theo dõi của bộ LĐ – TBXH. + Trường Cao đẳng nghề tư thục thành lập từ nhu cầu của địa phương hoặc một công ty, tập đoàn, doanh nghiệp nhất định nhằm đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cung cấp ngay cho địa phương hoặc công ty chủ quản và địa bàn lân cận. - Người học tốt nghiệp trường cao đẳng nghề có đủ điều kiện sẽ được đào tạo liên thông lên bậc đại học hệ chính quy.2 Giảng viên tại các Trường Cao đẳng nghề Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng, đại học.
GV có nhiệm vụ quyền hạn theo luật định. Điều lệ trường CĐ cũng đã xác định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐNGV. Tiêu chuẩn giảng viên: - Có phẩm chất đạo đức, tư tưởng, sức khỏe tốt và lý lịch bản thân rõ ràng. - Tối thiểu phải có bằng tốt nghiệp đại học và phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm Nhiệm vụ giảng viên: - Phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, thực hiện các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều lệ trường cao đẳng và quy chế tổ chức và hoạt động nhà trường.
- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường đã qui định: Viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn. 7 z - Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học. - Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn. - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lơi ích chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống.
- Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo. - Hoàn thành tốt công tác được trường, khoa, bộ môn giao. Quyền của giảng viên: - Được bố trí giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo, xác định nội dung các giáo trình giảng dạy phù hợp với qui định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.