CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC VÀ CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN 1. Một số vấn đề chung về tạo động lực cho sinh viên 1. Động lực Động lực (viết tắt ĐL) là sự khát khao và tự nguyện của con người trong việc tăng cường sự nỗ lực để đạt được một mục tiêu hoặc kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hoạt động). ĐL còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, các yếu tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt.
Theo Bedeian (1993), "động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá nhân". Theo Higgins (1994), "động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn" [5, tr.38] Theo giáo trình hành vi tổ chức: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.82] Thông thường ĐL được chia làm hai loại là động lực bên trong và động lực bên ngoài: Động lực bên trong (Intrinsic motivation): Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi sinh viên. Là sự thỏa mãn khi cá nhân sinh viên đạt được mục tiêu do chính mình đề ra, họ tự cảm thấy hứng thú với việc học họ sẽ có xu hướng tập trung và nỗ lực hơn để đạt được thành tích.
Động lực bên ngoài (Extrinsic motivation): Là những yếu tố bên ngoài khiến nhân viên hành động hướng tới hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu học tập và rèn luyện. Chúng thường là hình phạt hoặc phần thưởng. Động lực bên trong thường hiệu quả hơn động lực bên ngoài, bởi vì nó đến từ bên trong cá nhân thay vì áp đặt lên cá nhân. 5 Đôi khi,động lực còn xuất phát từ sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, hoặc giảng viên cũng có thể là nguồn động lực lớn.
Sinh viên muốn thành công không chỉ cho bản thân mình mà còn để làm hài lòng những người xung quanh họ kích thích sự khao khát vượt qua những rào cản và vươn lên trên khả năng hiện tại cũng có thể là một nguồn động lực mạnh mẽ. Vì vậy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về ĐL nhưng đều nói về bản chất của động lực là kích thích con người hành động để đạt được những mục tiêu nhất định. Các mục tiêu do người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh trong động cơ của họ và quyết định hành động của họ. Từ đây, có thể đưa ra khái niệm: Động lực là những yếu tố thúc đẩy sinh viên học tập rèn luyện và hoàn thành mục tiêu của bản thân.
Những yếu tố này không chỉ xuất phát từ niềm đam mê, sự yêu thích, sở thích cá nhân, mong muốn tự hoàn thiện của sinh viên mà còn xuất phát từ yếu tố khác ngoài bản thân sinh viên. Tạo động lực Tạo động lực nghĩa là việc thúc đẩy sự phát triển, đưa ra các biện pháp chính sách nhằm động viên tâm lý của người hoặc đối tượng cần tạo động lực, kích thích động lực để tiến lên phía trước phù hợp với mục tiêu mà đối tượng hướng tới. Về bản chất, việc tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của con người, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của họ bằng mục tiêu, gia tăng lợi ích của họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất nhằm nhanh chóng đạt được mục tiêu họ đề ra cho mình. Theo giáo trình Hành vi tổ chức thì: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [2, tr.
Đây là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý, tạo động lực trong lao động sẽ giúp cho người lao động có khả năng tăng năng suất lao động cá nhân, kích thích tính sáng tạo của người lao động. Tăng sự gắn bó của người lao động với tổ chức. Đồng thời tạo động lực còn giúp cho tổ chức 6 có một đội ngũ lao động giỏi, tâm huyết với công việc từ đó sẽ góp phần nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Tạo động lực lao động là việc vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng hơn với công việc.
Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động có động lực làm việc, họ sẽ dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp”.28] Tạo động lực là sự kích thích, thúc đẩy, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi hướng tới mục tiêu. Bản chất của ĐL xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn về nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và việc thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách này luôn có động lực để thu hẹp lại. Nhu cầu bao gồm nhiều loại khác nhau tuỳ theo cách chúng ta phân chia: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu trước mắt, nhu cầu lâu dài…Việc thoả mãn nhu cầu được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu ở một mức độ nhất định.
Khi một nhu cầu cơ bản được thỏa mãn thì nó dần dần biến mất và một nhu cầu mới lại xuất hiện. Con người không bao giờ thiếu nhu cầu, sự thoả mãn nhu cầu đều có ảnh hưởng tích cực đến ĐL của mỗi người. Nhu cầu luôn tồn tại mãi mãi nhưng nhu cầu không phải là yếu tố quyết định đến động lực mà lợi ích mới thực sự là yếu tố quyết định đến động lực. Vì vậy, tạo động lực cho sinh viên bao gồm tất cả các biện pháp, chính sách, thủ thuật mà nhà trường, giảng viên áp dụng vào sinh viên nhằm mục đích khiến cho sinh viên thấy hứng thú với việc học tập, có động lực học tập vào rèn luyện để đạt được kết quả tốt nhất.
Động lực học tập 7 “Động lực học tập là khao khát, mong muốn, hào hứng, cảm thấy có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết trong quá trinh học tập” (Bomia et al., 1997); “Động lực học tập cũng được quan niệm là một trong những thành phần có tính chất then chốt nhất trong việc học tập” (Slawin, 2008). Động lực học tập tạo nên nguồn sức mạnh, nguồn năng lực mạnh mẽ khiến chủ thể hành động và duy trì hành động để đạt được kết quả. Vậy động lực học tập là ĐL thúc đẩy sinh viên học tập, xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững những kiến thức đã học tiến tới làm chủ tri thức, làm chủ được nghề nghiệp mình đang theo đuổi. Động lực rèn luyện Động lực rèn luyện là một quá trình tâm lí mà nó định hướng các hành vi cá nhân một cách thường xuyên để đạt đến một trình độ nhất định nhằm đạt được mục tiêu trong quá trình rèn luyện đạo đức, hành vi, phẩm chất của một con người được lĩnh hội, nỗ lực trong một thời gian dài thể hiện ý chí, thúc đẩy con người hướng tới những tư tưởng, hành vi chuẩn mực.
Các thuyết tạo động lực 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Ông Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Ông cho rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu tử thấp đến nhu cầu bậc cao. Điểm quan trọng của lí thuyết này là Maslow cảm thấy rằng nếu các nhu cầu ở cấp thấp hơn chưa được đáp ứng, sẽ ngăn chặn con người bước lên bước tiếp theo.
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ,. Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. 8 Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân. Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống,. Họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng.
Tuy nhiên, tùy theo nhận thức, kiến thức, hoàn cánh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn. Ví dụ như: người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn. Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô sản, của cải, sở hữu tài sản là nhu cầu số một bỏ qua các nhu cầu bậc cao khác. Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Vì con người là thành viên của xã hội nên họ cần được người khác chấp nhận, có tình yêu thương, sự đồng hành.
Trong tổ chức, nhu cầu này được thể hiện thông qua sự kỳ vọng của người lao động về mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp cũng như cấp trên, được tham gia vào các hoạt động tập thể, làm việc theo nhóm. Nhu cầu được tôn trọng: Khi con người được đáp ứng nhu cầu của mình, được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu hướng tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Ông Maslow đã chia làm 2 loại: khát vọng về sức mạnh, thành công, tin tưởng vào người khác và khát vọng độc lập tự do. Loại còn lại mong muốn về danh tiếng, uy tín, địa vị, thống trị, được chú ý, được thể hiện bản thân.