CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG 1. Khái quát chung về Thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm Thi đua 1.Ănghen là người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung thi đua. Nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con người và con người trong lao động sản xuất, thấy được hiện tượng diễn ra một cách khách quan trong quá trình hợp tác lao động, Mác đã đưa ra khái niệm về thi đua: Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người.
Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao năng suất lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác TĐKT. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua tồn tại khách quan trong xã hội, Người đã dạy: Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua.
Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy [39, tr.658] Công tác thi đua là một quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, của cán bộ công chức, cơ quan làm công tác thi đua khen thưởng; để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công lao và thành tích xuất sắc của các cá nhân và tập thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [35, tr.18] 7 Thi đua là một hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, có mục đích, có định hướng. Thi đua là nhằm thúc đẩy sản xuất lao động, phấn đấu để đạt được kết quả đã đề ra của tổ chức, cá nhân.
Đồng thời, làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá toàn bộ quá trình công tác, cống hiến cũng như lao động sản xuất và học tập của cá nhân, tập thể. Như vậy, thi đua là một hiện tượng khách quan, là quy luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người. Theo Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 16/11/2013, quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nguyên tắc thi đua Khoản 1, Điều 6, Luật Thi đua, Khen thưởng quy định: “Nguyên tắc thi đua gồm tự nguyện, tự giác, công khai; đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển” Để đạt được mục tiêu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức thì các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải lãnh đạo và tổ chức thực hiện phong trào thi đua một cách thiết thực; triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng làm cho họ thấy rõ vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; qua đó nhận thức đúng trách nhiệm của công dân có ý thức tự nguyện, tự giác tham gia.
Nguyên tắc tự nguyện, tự giác thể hiện quyền dân chủ của công dân; thấy rõ trách nhiệm của cơ quan tham mưu cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị. Phong trào thi đua muốn đạt được kết quả tốt, việc công khai có ý nghĩa quan trọng. Nội dung công khai gồm: công khai mục tiêu, mục đích, vai trò, tác 8 dụng của phong trào thi đua; công khai trong kế hoạch, xây dựng tiêu chí thi đua, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua; kiểm tra, đôn đốc và bình xét, suy tôn, biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua; công khai trong trao tặng danh hiệu, tiền thưởng, tuyên truyền nhân điển hình tiên tiến và công khai tài chính. Qua việc công khai, thể hiện tính minh bạch, dân chủ trong thi đua, góp phần tạo niềm tin trong mỗi cá nhân tham gia phong trào.
Nguyên tắc công khai là cơ sở đảm bảo tính chính xác trong khen thưởng. Các hình thức tổ chức thi đua Thi đua thường xuyên: là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hằng ngày, hằng tháng, hằng quý, hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau. Thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt): là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong một khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian. Khái niệm Khen thưởng 1. Khen thưởng Khen thưởng là một trong những công cụ quản lý quan trọng của nhà nước và là một trong những biện pháp quản lý của cơ quan, tổ chức. Cùng với thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến công tác khen thưởng.
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Người đã ban hành Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, đây 9 có thể coi là văn bản mang tính pháp lý đầu tiên về công tác khen thưởng. Người quan niệm rằng, đã có thi đua thì phải có khen thưởng “thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Để nuôi dưỡng phong trào thì sau mỗi đợt thi đua phải tiến hành sơ kết, tổng kết, đúc rút, phổ biến kinh nghiệm, sáng kiến và cuối cùng, khâu quan trọng là biểu dương, nêu gương, khen thưởng. Nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh thì cho rằng: Khen thưởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội.
Công tác khen thưởng cũng như trừng phạt là một vấn đề hiện thực phát sinh và tồn tại trong quá trình phát sinh, phát triển con người. Giai cấp thống trị sử dụng nó như là một vũ khí để duy trì quyền lực thống trị của mình. Trong từng thời kỳ phát triển của đất nước ta khen thưởng luôn là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Công tác khen thưởng đã bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp, kịp thời động viên, khơi dậy và phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần hy sinh cao cả, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; góp phần đưa cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 16/11/2013, quy định: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 1. Nguyên tắc khen thưởng Luật Thi đua, Khen thưởng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 16/11/2013, đánh dấu một bước 10 quan trọng nhằm phát triển pháp luật về TĐKT. Luật đã qui định và khẳng định vai trò của công tác TĐKT trong giai đoạn trước mắt và lâu dài, tạo động lực cách mạng lôi cuốn, động viên khuyến khích mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức phát huy truyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, vươn lên lập thành tích xuất sắc trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Để khen thưởng được thực hiện đúng qui định, thể hiện được chủ trương và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì công tác khen thưởng hiện nay phải đáp ứng được các nguyên tắc cơ bản như sau: Khen thưởng phải đảm bảo chính xác, công bằng, công khai và kịp thời. Khen thưởng phải đảm bảo một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng. Khen thương phải đảm bảo tính thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng. Khen thưởng phải kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất.
Khen thưởng bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng. Các loại hình khen thưởng * Loại hình khen thưởng Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được là hình thức khen thưởng cho tập thể, cá nhân đạt được thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khen thưởng theo chuyên đề (hoặc theo đợt) là khen thưởng cho tập thể, cá nhân đạt được thành tích xuất sắc sau khi kết thúc đợt thi đua do Chủ 11 tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị phát động. Khen thưởng đột xuất là khen thưởng cho tập thể, cá nhân đạt được thành tích đột xuất trong lao động, sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu; dũng cảm cứu người, tài sản của nhân dân hoặc của Nhà nước (thành tích đột xuất là thành tích lập được trong hoàn cảnh không được dự báo trước, diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thường mà tập thể, cá nhân phải đảm nhận).
Khen thưởng quá trình cống hiến là khen thưởng cho cá nhân có quá trình tham gia trong các giai đoạn cách mạng (giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội), có công lao, thành tích xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.