chương 1 giới thiệu và chương 2 tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn có liên quan. Tiếp đến, tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam; phương pháp và kết quả nghiên cứu; kết luận và hàm ý chính sách lần lượt được thể hiện trong các chương 3, 4, và 5. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN 2. Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.
Lý thuyết năng suất cận biên vốn Lý thuyết của MacDougall (1960) được coi là một trong những lý thuyết đầu tiên về FDI. Lý thuyết này được đặt trên giả định là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và phát triển từ lý thuyết của Hescher Ohlin và Samuaelson về sự vận động vốn – mô hình H- O. Lý thuyết này sau đó lại được phát triển bởi Kemp (1964). Lý thuyết này đặt trên một mô hình giải định rằng hai nước có chi phí vốn bằng với năng suất biên.
MacDougall và Kemp cùng phát biểu rằng khi dòng vốn di chuyển tự do từ nước đầu tư sang nước nhận đầu tư, năng suất biên của vốn có xu hướng trở nên cân bằng giữa hai nước. Các tác giả nhận thấy rằng sau đầu tư, sản lượng của nước đầu tư giảm đi nhưng thu nhập quốc dân lại không giảm. Điều này là do về dài hạn nước đầu tư nhận được thu nhập lớn hơn từ các khoản đầu tư ra nước ngoài của nó. Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm 1960.
Nhưng sau đó, lý thuyết này đã không lý giải được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra, hay tỷ suất đầu tư trong nước cao nhưng tỷ suất đầu tư ra nước ngoài cũng cao. Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu để nghiên cứu FDI. Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm được phát triển bởi Raymond Vernon (1966) lý thuyết này cho phép giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ việc xuất khẩu các sản phẩm sang thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vernon cho rằng các sản phẩm phải trải qua một chu kỳ sống bao gồm bốn giai đoạn: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái.
Trong giai đoạn giới thiệu, vì 123doc 7 sản phẩm là sản phẩm mới, còn sản xuất độc quyền nên giá cao, sản lượng tiêu thụ ít, chủ yếu được tiêu thụ ở nước phát minh ra sản phẩm. Ở giai đoạn phát triển, sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng tham giai sản xuất các sản phẩm tương tự và dẫn đến cạnh tranh tăng, các nhà sản xuất bắt đầu xuất khẩu những sản phẩm và đồng thời tìm cách di chuyển địa điểm sản xuất sang các quốc gia có tương đồng về mức sống và văn hóa. Trong giai đoạn thứ 3, giai đoạn chín muồi, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, giá sản phẩm giảm nhiều, thị phần cũng giảm. Sau khi cải tiến thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm cách phát triển thị trường mới, di chuyển địa điểm sản xuất sang các nước kém phát triển hơn.
Trong giai đoạn sản phẩm suy thoái, sản phẩm đã lão hóa, chủ yếu chỉ còn ở thị trường của những nước đang phát triển. Trong giai đoạn này có hiện tượng xuất khẩu ngược sản phẩm về các nước công nghiệp phát triển do một bộ phận dân cư vẫn còn có nhu cầu về sản phẩm. Lý thuyết này chỉ giải thích cho việc đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số doanh nghiệp theo nguyên lý vòng đời quốc tế của sản phẩm mà không giải thích cho việc tại sao các dạng thâm nhập thị trường khác lại không hiệu quả hoặc kém hiệu quả. Mô hình “đàn nhạn” của Akamatsu Mô hình “đàn nhạn” của sự phát triển công nghiệp của Akamatsu (1961).
Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn: (1) sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước; (2) sản phẩm trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu; (3) sản xuất để xuất khẩu. FDI sẽ thực hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với sự thay đổi về lợi thế tương đối. Ozawa là người tiếp theo nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và mô hình “đàn nhạn”. Theo ông, một ngành công nghiệp của nước đang phát triển có lợi thế tương đối về lao động, sẽ thu hút FDI vào để khai thác lợi thế này.
Tuy nhiên sau đó tiền lương lao động của ngành này dần dần tăng lên do lao động của địa phương đã khai thác hết và FDI vào sẽ giảm đi. Khi đó các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài (nơi có lao động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tương đối của nước này. Đó 123doc 8 là quá trình liên tục của FDI. Mô hình đã chỉ ra quá trình đuổi kịp của các nước đang phát triển: khi một nước đuổi kịp ở nấc thang cuối cùng của một ngành công nghiệp từ kinh tế thấp sang kỹ thuật cao thì tỷ lệ FDI ra sẽ lớn hơn tỷ lệ FDI vào.
Một quốc gia đứng đầu trong đàn nhạn, đến một thời điểm nhất định sẽ trở nên lạc hậu và nước khác sẽ thay thế vị trí đó. Đóng góp đáng kể của mô hình này là sự tiếp cận “động” với FDI trong một thời gian dài, gắn với xu hướng và quá trình của sự phát triển, có thể áp dụng để trả lời câu hỏi: vì sao các công ty thực hiện FDI, đưa ra gợi ý đối với sự khác nhau về lợi thế so sánh tương đối giữa các nước dẫn đến sự khác nhau về luồng vào FDI. Tuy nhiên, mô hình “đàn nhạn” chưa thể trả lời các câu hỏi vì sao các công ty lại thích thực hiện FDI hơn là xuất khẩu hoặc cung cấp kỹ thuật của mình, và không dùng nó để giải thích vì sao FDI lại diễn ra giữa các nước tương tự về các nhân tố và lợi thế tương đối, vì sao FDI lại diễn ra từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác. Vấn đề quan trọng hơn là mô hình này lờ đi vai trò của nhân tố cơ cấu kinh tế và thể chế.
Lý thuyết chiết trung của Dunning Lý thuyết chiết trung hay còn gọi là mô hình OLI, được phát triển bởi Dunning (1977). Theo Dunning, một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) lợi thế về sở hữu (Ownership advantages – O) bao gồm: lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch; (2) lợi thế về khu vực (Locational advantages – L) bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chính phủ và (3) lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages – I) bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế. Theo lý thuyết này thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI. Lý thuyết cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI.
Những lợi thế 123doc 9 này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau. Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunning phát hiện vào năm 1979. Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 2. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học cổ điển Adam Smith (1776) cho rằng sự giàu có của các quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trong đó có hai nhân tố quan trọng là (1) số lượng lao động làm việc trong nền sản xuất; (2) vật chất và trình độ của phân công lao động.
“Con người kinh tế” dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” sẽ làm cho nền kinh tế phát triển, người lao động sẽ sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho xã hội; lợi ích cá nhân sẽ gắn liền với lợi ích xã hội thông qua thị trường tự do. Thị trường sẽ giải quyết tất cả, Chính phủ không cần can thiệp vào nền kinh tế. Nguyên tắc phân phối là “ai có gì được nấy”, tư bản có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất thì nhận được địa tô, công nhân có sức lao động thì nhận được tiền lương. Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng thị trường tự do dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” làm cho lợi ích cá nhân gắn với lợi ích xã hội.
Sự linh hoạt của giá cả và cơ chế tiền lương có khả năng tự điều chỉnh sự mất cân đối của nền kinh tế thị trường, xác lập cân đối mới. Khi tổng sản lượng quốc gia đạt mức tiềm năng nó quyết định số lượng việc làm của nền kinh tế. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Karl Marx Quan niệm của Karl Marx, tăng trưởng là quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Các yếu tố tác động: đất đai, vốn, lao động, và tiến bộ kỹ thuật.
Trong đó, lao động là yếu tố quan trọng nhất bởi lao động sẽ tạo ra giá trị bằng sức lao động cộng với giá trị thặng dư. Theo Karl Marx, thặng dư là nguồn gốc tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kỹ thuật là phương tiện lâu dài để tăng giá trị thặng 123doc 10 dư. Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự tăng trưởng Ông chia hoạt động xã hội thành 2 lĩnh vực: (1) sản xuất vật chất và (2) sản xuất phi vật chất.
Sản xuất vật chất tạo ra sản phẩm xã hội. Karl Marx bác bỏ lý thuyết cổ điển về “cung tạo nên cầu” cũng như sự hạn chế của đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng. Nền kinh tế chỉ thông suốt khi hàng hóa có sự đảm bảo cân bằng giữa khối lượng và cơ cấu mua và bán. Nếu khoảng cách này lớn sẽ tạo ra khủng hoảng.
Khủng hoảng là giải pháp khôi phục thế cân bằng đã bị rối loạn. Chính sách kinh tế của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là chính sách nâng cao mức cầu hiện có.