Chương 1 của luận văn sẽ trình bày các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu như: khái niệm, vai trò; sự cần thiết tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản. Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản 1. Khái niệm về thuế Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.
Các Mác (1961) đã viết: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước". Ngoài ra, Ăng ghen (1962) cũng đã viết: "Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế. Với những bước tiến của văn minh thì bản thân thuế cũng không đủ nữa; nhà nước còn phát hành hối phiếu vay nợ, tức là phát hành công trái”. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước 21 Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân Khái niệm: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định. Đặc điểm của thuế TNCN: Là một chính sách trong hệ thống thuế, thuế TNCN mang đầy đủ những tính chất cơ bản của thuế nói chung, đó là tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lí cao; được xác lập trên nền tảng các vấn đề kinh tế-xã hội của người làm nghĩa vụ đóng thuế và tính không hoàn trả trực tiếp.
Ngoài những đặc điểm chung đó, thuế TNCN còn có một số đặc điểm riêng sau: Một là, thuế TNCN là thuế trực thu, người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể chuyển dịch gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác. Hai là, thuế TNCN là sắc thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết các cá nhân trong xã hội. 22 Ba là, thuế TNCN thường mang tính chất lũy tiến cao, thuế suất được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các cá nhân phải nộp thuế. Bốn là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ bởi thuế TNCN không phải là yếu tố cấu thành trong giá bán hàng hàng hóa, dịch vụ.
Năm là, thuế TNCN đánh thuế theo nguyên tắc có xem xét đến khả năng trả thuế hay hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản Thuế TNCN từ chuyển nhượng BĐS là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập từ giá trị tăng thêm qua việc chuyển nhượng (quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền được thuê) BĐS của cá nhân.Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng BĐS không phát sinh thường xuyên mà phát sinh từng lần phụ thuộc vào phát sinh giao dịch chuyển nhượng BĐS trên thị trường. Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS là thu nhập tính thuế và thuế suất.
Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng BĐS bao gồm: + Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; + Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; + Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; + Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản. Các loại thuế chuyển quyền bất động sản a. Thuế đăng ký bất động sản Thuế đăng ký bất động sản hay còn gọi là Lệ phí trước bạ. LPTB là khoản thu do Nhà nước quy định thu trước khi tổ chức, cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ sách công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân đó; LPTB là khoản thu vừa mang tính chất lệ phí (hoàn trả trực tiếp), vừa mang tính chất thuế (điều tiết thu nhập).
Thuế được thu một lần vào người có tài sản nằm trong danh mục tài sản Nhà nước cần quản lý khi thực hiện các thủ tục đăng ký bất động sản hoặc khi có nhu cầu được xác nhận tính pháp lý của các văn tự liên quan đến chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở. Giá tính thuế thường là số tiền ghi trên hợp đồng chuyển nhượng bất động sản hoặc theo giá tính LPTB do Ủy ban quy định. Thuế tính trên thu nhập từ bất động sản Đây là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập từ việc chuyển nhượng (quyền sở hữu, quyền sử dụng) BĐS. Thuế phát sinh không thường xuyên, phụ thuộc vào phát sinh giao dịch chuyển nhượng BĐS trên thị trường.
Giá tính thuế thường là số tiền ghi trên hợp đồng chuyển nhượng bất động sản hoặc theo giá tính LPTB do Ủy ban quy định. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản Thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản được áp dụng tại nhiều quốc gia thường bao gồm nhiều sắc thuế, mang nhiều đặc điểm chung của thuế như: là loại thuế trực thu, không mang tính hoàn trả trực tiếp, mang tính bắt buộc và tính pháp lý…Để phục vụ nghiên cứu, luận văn đưa ra một số đặc điểm nổi bật như sau: 24 a. Thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản dựa trên nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích. Trên nguyên tắc những người được hưởng lợi ích từ Nhà nước nhiều sẽ phải nộp thuế cao.
Nhà, đất và các công trình kiến trúc khác được giữ nguyên giá trị và sinh lời là nhờ được thừa hưởng nhiều lợi ích từ các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp. Ví dụ, giá trị của nhà, đất có thể tăng lên nhiều do Nhà nước cải tạo, mở rộng hệ thống đường giao thông, lắp đặt hệ thống điện, cung cấp nước, việc quy hoạch đô thị từ xã lên phường.mà không cần phải có sự đầu tư thêm bất cứ thứ gì của người nắm giữ BĐS. Vì vậy, người có BĐS phải có trách nhiệm đóng góp vào ngân sách Nhà nước (NSNN) để Nhà nước có thêm nguồn kinh phí trang trải cho các khoản chi đầu tư cơ sở hạ tầng. Việc xác định giá tính thuế BĐS là vấn đề khó khăn và phức tạp.
Giá cả của hầu hết các hàng hóa trong nền kinh tế đều có cơ sở là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nhưng đối với BĐS không thể xác định được theo cách này vì giá trị của chúng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốt. Căn cứ để xác định giá tính thuế là Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và giá trị chuyển nhượng BĐS được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng. Bảng giá đất thường được Ủy ban ban hành một lần và áp dụng ổn định cho giai đoạn 05 năm. Chính vì điều này nên nhiều lúc dẫn đến giá trị của BĐS theo giá Ủy ban sẽ có sự chênh lệch rất xa so với giá thị trường, thêm vào đó việc người dân muốn giảm bớt số thuế phải đóng nên sẽ có sự bắt tay giữa người mua và người bán để kê khai một mức giá chuyển nhượng rất thấp, thông thường sẽ thấp hơn hoặc bằng giá do Ủy ban quy định.
Chính vì vậy, việc xác định giá trị của BĐS để làm căn cứ tính thuế rất khó khăn và phức tạp, cần nghiên cứu kỹ lưỡng để phát huy được vai trò điều tiết của thuế chuyển nhượng bất động sản. Thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản thường dễ thu. Người có BĐS thường muốn công khai đăng ký để được Nhà nước bảo vệ quyền sử hữu hay quyền sử dụng của mình khi có phát sinh các tranh chấp, kiện tụng…Vì vậy, người nộp thuế đa 25 phần sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính trong thời gian sớm nhất có thế, vấn đề cần được quan tâm ở đây là phải quy định khung giá, mức thuế suất phù hợp. Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản Công tác quản lý thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản là một phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước, sau khi đã được phê chuẩn và ban hành, chính sách thuế chuyển nhượng bất động sản được tổ chức và thực hiện.
Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế. Vì nhờ vào việc tổ chức thực hiện chính sách thuế thì quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời các quy định mới này được mọi người dân biết thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế. Nội dung, trách nhiệm quản lý thuế được phân cấp quản lý từ Cục thuế đến các chi cục thuế. Cụ thể: với các đơn vị tổ chức lớn, diện tích đất chuyển đổi lớn, thuộc các khu vực quan trọng thuộc quyền quản lý của Cục thuế.