CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ TNCN TỪ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BĐS 1. Khái niệm, đặc điểm của BĐS, hoạt động chuyển nhượng BĐS 1. Khái niệm, đặc điểm của BĐS 1. Khái niệm BĐS Việc phân chia một tài sản thành BĐS và động sản được xuất phát từ Luật La Mã, cụ thể là luật tài sản của người La Mã.
Đây là các phân loại cơ bản nhất, được nhiều hệ thống pháp luật ghi nhận, sử dụng đến ngày nay. Tuy nhiên, hiện nay, người một số quy định chi tiết hơn đối với BĐS so với động sản trong việc nhận quyền, bảo vệ quyền và chuyển nhượng. Theo đó, công trình xây dựng, nhà cửa, cây trồng, mùa màng,… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ đều được xem là BĐS. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất trong việc xem BĐS gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai.
Tùy vào trạng thái thực tế của tài sản quan điểm chính trị của mỗi nước mà có sự khác nhau trong việc định nghĩa thế nào là tài sản “gắn liền” với đất. Trong khi Luật Dân sự Pháp liệt kê cụ thể “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản” thì Luật Dân sự của một số nước khác như Đức, Nhật, Thái Lan chỉ đưa ra khái niệm chung BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất.1 Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều xem BĐS là đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận gắn liền, và không thể tách rời khỏi đất đai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; 1 Lê Bá Xuân (2003), Sự hình thành và phát triển thị trường BĐS trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. NXB KH-KT, Hà Nội 7 c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, nhìn chung khái niệm BĐS hiện nay rất rộng, đa dạng và được quy định cụ thể bằng pháp luật của mỗi nước.
Riêng đối với pháp luật của Việt Nam, BĐS được xác định theo phương pháp liệt kê từ loại tài sản và kèm theo một điều khoản mở mà cho đến nay chưa có các quy định cụ thể danh mục các tài sản này. Đặc điểm của BĐS Mặc dù có những điểm khác nhau về định nghĩa tuy nhiên BĐS ở hầu hết các quốc qua đều có một số điểm đặc chung: Một là, BĐS có tính cố định về vị trí, giới hạn về số lượng. Tính chất cố định về vị trí, giới hạn về số lượng là hoàn toàn đúng đối với BĐS là đất đai và mang tính tương đối với BĐS là tài sản gắn liền với đất. Bởi lẽ, mỗi một phần đất nhất định chỉ có một vị trí duy nhất, không thể di dời hay chuyển sang một vị trí khác.
Trong khi đó, với điều kiện kỹ thuật hiện đại hiện tại chúng ta có thể thực hiện việc di chuyển một tài sản gắn liền với đất từ vị trí này sang vị trí khác. Ngoài ra, đất đai không phải tài sản do con người tạo ra mà là kết quả của quá trình tạo tác của thiên nhiên nên có có giới hạn về số lượng. Trong quá trình sử dụng đất đai, con người có thể làm tăng giá trị của đất nhưng cũng không thể làm tăng diện tích của đất. Còn đối với tài sản gắn liền với đất, mặc dù con người có thể chủ động tạo ra được các tài sản gắn liền với đất tuy nhiên việc tạo lập ra các tài sản trên đất cũng sẽ bị phụ thuộc, giới hạn với tính hữu hạn của đất đai.2 Hai là, BĐS có tính lâu bền.
Tính lâu bền BĐS được thể hiện thông qua “tuổi thọ vật lý” của vật kiến trúc, công trình xây dựng tồn tại trên BĐS và “tuổi thọ kinh tế” của BĐS. Tuổi thọ kinh tế của BĐS là khoảng thời gian mà việc sử dụng BĐS tạo ra lợi ích kinh tế cao hơn so với chi phí đầu tư vào BĐS, chấm dứt tại thời điểm chi phí sử dụng ngang bằng 2 Cao Văn Tỵ (2012), Pháp luật Thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật TP.9 8 với lợi ích kinh tế tạo ra. Tuổi thọ kinh tế của một BĐS phụ thuộc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố bên ngoài như thị trường, vị trí, điều kiện kinh tế xã hội…Tuổi thọ vật lý của vật kiến trúc như nhà cửa, công trình xây dụng… tồn tại trên đất chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của các vật, các công trình này bị hư hỏng, việc sử dụng không đảm bảo an toàn. Tuổi thọ vật lý cũng là một trong yếu tố góp ảnh hưởng đến tuổi thọ kinh tế của BĐS.
Trong trường hợp tuổi thọ kinh tế của một BĐS có chiều hướng giảm dần, nếu xét thấy còn có thể tiến hành cải tạo, nâng cấp các công trình, vật kiến trúc tồn tại trên BĐS thì có thể kéo dài được mấy lần tuổi thọ kinh tế. Như vậy, hàng hoá BĐS có tính lâu bền là do đất đai không bị mất đi, có thể linh hoạt chuyển đổi mục đích sử dụng rất phong phú và đa dạng. Ba là, BĐS có tính giá trị cao. Chính vì tính cố định về vị trí, khan hiếm về số lượng và tình lâu bền của BĐS đã làm cho BĐS trở thành một loại hàng hóa đặc biệt và có giá trị kinh tế cao mà không một hành hóa thông thường nào có được.
Bên cạnh đó, giá trị cũng BĐS sẽ càng được tăng thêm khi có nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất. Đây cũng là tính chất có ảnh hưởng đến các quy định của pháp luật trong lĩnh vực BĐS. Bốn là, BĐS rất dễ bị ảnh hưởng lẫn nhau, giá trị của một BĐS này có thể bị chi phối bởi BĐS khác. Điều này có thể nhận các một số BĐS gần hoặc cạnh nhau trong một khu vực tác động hành hưởng lẫn nhau, cộng hưởng với nhau làm tăng giá trị của chính các BĐS đó và BĐS ở các vùng lận cận.
Ví như BĐS ở càng gần những khu trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, … thì sẽ có giá trị càng cao. Giá trị của BĐS sẽ giảm dần khi càng ra xa. Do đó, để tăng giá trị BĐS ở một khu vật bất kỳ, Nhà nước hoặc các nhà đầu tư BĐS thường tập trung xây dựng hệ thống các công trình phục vụ thiết yếu của cư dân. Năm là, BĐS thường chịu tác động nhiều từ yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý- xã hội Bởi vì người dân sinh sống ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi khu vực khác nhau đều có thị hiếu, tập quán sinh sống khác nhau.
Do vậy, nhu cầu của người dân đối với BĐS ở những khu vực khác nhau cũng không giống nhau. Nhu 9 cầu đối với BĐS bị phụ thuộc, chi phối bởi yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng…Ngoài ra, trong quá trình sử dụng BĐS, BĐS có thể dễ dàng bị điều chỉnh công năng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất - kinh doanh và các hoạt động khác của người sử dụng. Bên cạnh các đặc điểm chung kể trên, BĐS tại Việt Nam cũng có đặc điểm riêng. Cụ thể, hình thức sở hữu đối với BĐS trong pháp luật Việt Nam có sự phân biệt và được chia thành 2 nhóm: hình thức sở hữu với đất đai, hình thức sở hữu đối với tài sản bao gồm nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất.
Đối nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, theo quy định của Bộ luật Dân Sự và các văn bản pháp luật liên quan thì đây là đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu. Hay nói khách khác là nhà nước thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với các loại BĐS này. Đối với đất đai, chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam dựa trên cơ sở nền tảng của học thuyết của Mác - Lê Nin về chủ nghĩa xã hội. Theo đó, trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc sở hữu toàn dân - sở hữu công cộng3.
Tại Việt Nam, đất đai luôn được xem là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, tại điều 53 Hiến Pháp 2013 đã khẳng định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này khác biệt với một số nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai. Nhà nước Việt Nam là đối tượng có đầy đủ ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản là BĐS bởi tư cách là cơ quan đại diện của nhân dân - chủ sở hữu của đất đai trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên, Nhà nước không thể trực tiếp thực hiện các tất cả các quyền trên toàn bộ đất đai trong lãnh thổ nên nhà nước đã giao quyền sử dụng đất cho các đối tượng khác sử 3 Lê Hồng Hạnh (2018), Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật (http://tcdcpl.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=388) 10 dụng đất thông qua hoạt động công nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất,. Đối tượng được nhà nước trao lại quyền sử dụng là các cá nhân, tổ chức trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Theo Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền sử dụng chỉ được giới hạn trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Tuy nhưng, các quyền năng mà nhà nước hiện nay giao lại cho các đối tượng trên gần giống như các quyền của một chủ sở hữu độc lập (đối tượng sử dụng được phép tặng cho, chuyển nhượng, để thừa kế, cho thuê, góp vốn, bảo lãnh, thế chấp,.
Rõ ràng đã có một sự mâu thuẫn và sự mâu thuẫn này vẫn còn được bỏ ngỏ.