Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ THUÊ THU NHẬP CÁ NHÂN TRONG LĨNH VỰC BÁT ĐỘNG SẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước góp phần quản lý, điều tiết, ôn định kinh tế vĩ mô, là nguồn thu chủ yếu của NSNN, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy, đây là lĩnh vực mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn quan tâm nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn triển khai, hoàn thiện chính sách thuế và quản lý thuế. Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ đề thuế TNCN như một số nghiên cứu, đánh giá việc quản lý thuế TNCN hiện nay tại Việt Nam với các góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát lại như sau: Đề tài “Chính sách Thuế TNCN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc rể”, luận văn thạc sỹ kinh tế của Mai Thị Mai Hoa, năm 2004.
Luận văn đã làm rõ lý luận, thực trạng có tham khảo việc áp dụng thuế TNCN ở một số nước và từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện và xây dựng hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam. Đề tài “Hoàn thiện chính sách Thuế thu nhập góp phân phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO”, luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Liên, năm 2007. Luận văn đã hệ thống hóa được quá trình thu thuế, thực trạng và đề xuất một số giải pháp dé hoàn thiện chính sách thuế thu nhập. Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý Thuế TNCN của Tổng cục Thuế”, luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế của Trần Thị Tuyết, năm 2014.
Luận văn này đã đi sâu phân tích một số van dé lý luận cơ bản về thuế TNCN, vai trò của Tổng cục thuế trong công tác quản lý thuế TNCN. Trên cơ sở đó, tiễn hành phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của Tổng cục Thuế. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN của Tổng cục thuế. Đề tài “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế trong lĩnh vực BĐS trên địa bàn huyện Phú Xuyên”, luận văn thạc sĩ kinh té của tác giả Đỗ Minh Hiếu, năm 2014.
Luận văn đã hệ thống hóa một số van đề cơ bản về hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực BĐS, đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế trong lĩnh vực BĐS trên địa bàn huyện Phú Xuyên, từ đó xác định những thành tựu và những nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thu thuế trong lĩnh vực BĐS. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý thu thuế trong lĩnh vực BĐS phù hợp với thực tiễn trên địa bàn huyện Phú Xuyên. Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS tai CCT huyện Phú Xuyên ”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của Vũ Thị Thuần, năm 2016, đã hệ thống cơ sở lý luận chung về thuế TNCN va quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS, tiến hành phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trong hoạt động BĐS tại CCT huyện Phú Xuyên hiện nay. Sau khi đánh giá được ưu và nhược điểm từ công tác quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS, tác giả chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS tại CCT huyện Phú Xuyên cho phù hợp với tình hình thực tế.
Các đề tài nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu những biện pháp và định hướng hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam, cũng như các địa phương nhằm nâng cao vai trò của thuế TNCN, hoặc nghiên cứu về công tác quản lý thuế TNCN. Đây là những tài liệu hữu ích giúp tác giả trong quá trình thực triển khai đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về thực trạng quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS tại Chi cục thuế quận Hà Đông, cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS tại CCT quận Hà Đông. Đây chính là khoảng trông mà luận văn di sâu nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân trong lĩnh vực bat động sản trên địa bàn quận, huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thuế Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rang thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất dé thực hiện những chỉ tiêu có tính chat xã hội. Bằng quyền lực chính tri, Nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội dé có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Từ sự phân tích khái quát đó có thê cho thấy, thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội.
Căn cứ vào góc độ tiếp cận, mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa về thuế khác nhau, như: Từ góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhăm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ NSNN) dé dap ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Từ góc độ NNT, thuế được định nghĩa: là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Từ góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình dé chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được phát triển và hoàn thiện trong thời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986).
Trước đó, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu NSNN chủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hoá, thuế lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài.vai trò của thuế trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế. Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNCN vào thang 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyền quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841), sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỷ suất thuế TNCN lớn nhất thế giới chiếm tới 35% - 60% tổng thu từ thuế vào NSNN. Ở Trung Quốc, thuế TNCN ra đời từ năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập.
Ở Pháp, thuế TNCN ra đời năm 1961, Hàn Quốc năm 1974.cho đến nay, theo thống kê của ERNST& YOUNG tai “the global Excutive”, hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế TNCN. Bat kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của các cá nhân trong xã hội, trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Chúng ta có khái niệm về thuế TTCN như sau“Thué TNCN là một loại thuế trực thu đánh vao thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần”. Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Đồng thời, tùy theo tính chất của các khoản TNCN, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên dé tính thuế cho phù hợp.
Tại Việt Nam, Luật thuế TNCN ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 và thay thế thuế chuyên quyền, thuế TNCN được hình thành là điều tất yếu khách quan và là một bộ phận không thé thiếu trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia, thuế TNCN được thê hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Thuế TNCN có các đặc điểm sau: - Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gan với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.
- Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước đo được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. - Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân và Nhà nước thu tiền thuế trực tiếp từ các chủ thể trong nền kinh tế.