Chương 1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 1. Khái quát về thuế đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 1. Khái niệm về thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam Tại Việt Nam, hoạt động chuyển nhượng bất động sản (hay còn gọi là chuyển nhượng quyền sử dụng đất) được điều chỉnh bởi nhiều loại thuế khác nhau theo từng thời kỳ. Nếu như từ cuối năm 2003 trở về trước, thuế chuyển quyền sử dụng đất thu vào thu nhập có được từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Từ ngày 01/01/2004, loại thuế này chỉ thu vào thu nhập của các hộ gia đình và cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp. Các cơ sở kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Và từ ngày 01/01/2009 khi Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực, thuế chuyển quyền sử dụng đất đã bị bãi bỏ. Theo đó, nghĩa vụ tài chính của các chủ thể có hành vi chuyển quyền sử dụng đất đối với nhà nước được thay bằng loại thuế khác đánh vào thu nhập có được từ giao dịch làm thay đổi quyền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, cụ thể là hai loại thuế là: Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Theo đó, để có được cách hiểu đúng về thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam thì trước hết phải làm rõ khái niệm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. Khái niệm và đặc điểm về thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay. Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808.
Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm trong thời kỳ nội chiến nhưng bị gián đoạn vào năm 1872. Các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, Newzealand và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19. Các nước Châu Á áp dụng 6 muộn hơn: Thái lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Các nước Đông Âu sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mới áp dụng lại như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế điều tiết vào thu nhập thuộc sở hữu của cá nhân không phân biệt nguồn hình thành thu nhập. Các khoản thu này có thể hình thành trong quá trình xác lập và thực hiện các quan hệ pháp luật đa dạng như quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh, quan hệ tín dụng, quan hệ mua bán, chuyển nhượng về tài sản. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế thu nhập cá nhân được thể hiện trong các giáo trình và các sách tham khảo chuyên ngành. Tuy nhiên, hầu hết các ý kiến về thuế thu nhập cá nhân đều có chung quan điểm coi thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
[16, 189] Tất cả các quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đặc biệt là nhằm thực hiện công bằng xã hội. Thực tiễn thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở nước ta thời gian qua cho thấy, thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò căn bản trong việc bảo đảm công bằng xã hội, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo. Hơn thế nữa, thuế thu nhập cá nhân còn là một trong những nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, vì vậy nó giúp cho nhà nước đảm bảo được khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cải thiện mức sống tốt hơn cho những người nghèo, tạo ra sự công bằng hơn trong xã hội. Từ các phân tích nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập cá nhân như sau: Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà cá nhân có thu nhập chịu thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả và dựa trên cơ sở mức thuế suất, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
7 Với tư cách là một loại thuế áp dụng trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia, thuế thu nhập cá nhân có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, bản chất của thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của thuế thu nhập cá nhân thể hiện ở chỗ, loại thuế này nhằm mục đích điều tiết trực tiếp thu nhập của người nộp thuế. Nói cách khác, với thuế thu nhập cá nhân thì người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế. Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu nên nó phản ảnh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.
Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khóa sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. Vì đối tượng kê khai nộp thuế cũng chính là người chịu thuế, cho nên thuế trực thu luôn gây cảm giác gánh nặng thuế, bên cạnh đó thuế thu nhập cá nhân có tác động rất lớn, ảnh hưởng đến mọi thành viên trong xã hội. Do đó, thuế thu nhập cá nhân rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng tiêu cực từ phía người nộp thuế, dẫn đến tình trạng trốn thuế, gian lận thuế. Đặc điểm này giúp phân biệt thuế thu nhập cá nhân với các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Thứ hai, chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật. Theo thông lệ, pháp luật các nước thường quy định cá nhân cư trú sẽ phải nộp thuế cho các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ quốc gia mà người đó có tư cách là cá nhân cư trú. Còn cá nhân không cư trú chỉ phải kê khai nộp thuế cho các khoản thu nhập phát sinh trên lãnh thổ quốc gia mà người đó có tư cách là cá nhân không cư trú. Việc phân biệt chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú đã trở thành nguyên tắc phổ biến trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đặc điểm này cho phép phân biệt giữa thuế thu nhập cá nhân với thuế thu nhập doanh nghiệp (vốn dĩ là loại thuế đánh vào thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp và tổ chức có thu nhập từ hoạt động kinh tế giống như doanh nghiệp). Thứ ba, đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân là các khoản thu nhập hợp pháp của cá nhân phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặc từ các hoạt động khác 8 không có tính chất kinh doanh (ví dụ: thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ chuyển giao công nghệ, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ, thu nhập từ quà tặng, quà biếu hoặc từ thừa kế tài sản là bất động sản, chứng khoản…). Riêng đối với khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh thì người nộp thuế thu nhập cá nhân có thể được xem xét giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế và nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế hướng tới mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội.
Điều này thể hiện ở chỗ, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước giống như các loại thuế khác thì thuế thu nhập cá nhân còn hướng đến một mục tiêu mang tính xã hội nhiều hơn, đó là thiết lập và đảm bảo công bằng xã hội giữa các cá nhân thông qua việc điều tiết thu nhập của mỗi cá nhân bằng công cụ thuế. Trên thế giới, mục tiêu này rất được Chính phủ các nước coi trọng nên thuế trực thu thường được chú ý đặc biệt so với thuế gián thu. Thứ năm, thuế thu nhập cá nhân áp dụng nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần đề điều tiết vào những thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công. Đặc điểm này cũng xuất phát từ mục tiêu điều tiết thu nhập cá nhân để tạo công bằng trong xã hội, chỉ có áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần mới đáp ứng được vai trò đảm bảo công bằng xã hội cho thuế thu nhập cá nhân.
Bởi lẽ, áp dụng nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần thì người có thu nhập cao sẽ nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp sẽ nộp thuế ít, phần thu nhập mà tăng lên càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao giúp cho việc điều tiết thu nhập của thuế thu nhập cá nhân được hiệu quả. Từ đó nó sẽ tránh được việc người có thu nhập thấp cũng phải đóng thuế ngang bằng với người có thu nhập cao của nguyên tắc thuế suất toàn phần. Theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần này thì thuế suất sẽ tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở thuế đã được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần. Ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế đó là một mức thuế suất biên.
Số thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng bậc. Việc tính toán và kiểm tra loại thuế này nhìn chung khá 9 phức tạp nhưng cách tính này đảm bảo số thuế phải nộp tăng dần, không bị đột biến cùng với tốc độ tăng của cơ sở thuế, đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc của thuế thu nhâp cá nhân cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập. Ngoài ra, biểu thuế lũy tiến từng phần sẽ mềm dẻo, linh hoạt hơn và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.