Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý nợ xấu của NHTM 1. Các quan điểm về nợ xấu và tiêu chí phản ánh nợ xấu của NHTM 1. Các quan điểm về nợ xấu * Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu Nợ xấu trong các NHTM gồm: - Những khoản nợ không thể thu hồi được.
- Nợ có thể thu hồi nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng. * Theo Phòng thống kê - Liên hợp quốc Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. * Tại Việt Nam Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu (NPL- Non Performing Loan) là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) quy định tại Điều 6 và Điều 7 Quy định này” [6]. Theo đó, nợ xấu cũng được xác định dựa trên yếu tố định lượng (quá hạn trên 90 ngày) và yếu tố định tính (đánh giá của tổ chức tín dụng về khả năng trả nợ của khách hàng).
Tại Việt Nam, việc xác định nợ xấu chỉ là những khoản đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán (nội bảng) mà không đề cập đến các khoản nợ xấu đã được xử lý bằng qũy dự phòng của các tổ chức tín dụng, các khoản đã bán nợ cho công ty mua bán nợ (các khoản nợ đã được hạch toán ngoại bảng). Tuy nhiên, đối với hoạt động 5 ngân hàng thương mại, việc quản lý, thu hồi nợ đã xử lý rủi ro, khoản bán nợ vẫn được thực hiện như một khoản nợ xấu nội bảng thông thường. Do đó, theo quan điểm của tác giả: “Nợ xấu là những khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay, không được thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng hoặc được đánh giá là không có khả năng thu hồi khi đến hạn, bao gồm cả các khoản nợ xấu thông thường đang hạch toán nội bảng (trong bảng cân đối kế toán: nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo Điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN) và các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng, các khoản bán nợ của ngân hàng được theo dõi ngoại bảng”. Những tiêu chí cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM - Tiêu chí 1: Tổng nợ xấu: là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng.
Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng là tốt hay xấu, tuy nhiên chỉ tiêu này chưa phản ánh chính xác được mức rủi ro của ngân hàng do chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số dư nợ xấu đó, nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu. - Tiêu chí 2: Tỷ lệ giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ (tỷ lệ nợ xấu): chỉ tiêu này cho biết mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Số dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = × 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ này phản ánh cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao.
Nếu tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 5% thì được coi là có chất lượng tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn. Tuy nhiên các con số được sử dụng để tính chỉ số này được đo tại một thời điểm nhất định nên chưa phản ánh một cách chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng. - Tiêu chí 3: Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn (nợ khó đòi)/tổng dư nợ; và tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn(nợ khó đòi)/nợ xấu: Tỷ lệ nợ khó đòi/ Nợ khó đòi = × 100% Tổng dư nợ Tổng dư nợ 6 Tỷ lệ nợ khó đòi/ Nợ khó đòi = × 100% Nợ xấu Nợ xấu Các tỷ lệ này cho biết chỉ tiêu tương đối của nợ có khả năng mất vốn (nợ khó đòi) - một cấu phần quan trọng của nợ xấu. Đây là những chỉ tiêu phản ánh một cách khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng.
Tỷ lệ này mà càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao. Cụ thể, với hai ngân hàng có cùng số nợ xấu thì ngân hàng nào có tỷ lệ nợ khó đòi/nợ xấu cao hơn sẽ có nguy cơ mất vốn cao hơn. - Tiêu chí 4: Tỷ lệ trích lập dự phòng: Tỷ lệ này phản ánh quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn. Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ trích lập dự phòng = × 100% Tổng dư nợ Ngoài ra, tuỳ theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý phù hợp.
Khái niệm, mục tiêu và sự cần thiết quản lý nợ xấu của NHTM 1. Khái niệm quản lý nợ xấu Theo Ủy ban Basel, quản lý nợ xấu NHTM được hiểu như sau: Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế nào khi đã có nợ xấu phát sinh mà nó bao gồm quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý, thu hồi các khoản nợ xấu đã phát sinh nhằm phù hợp đối với mục tiêu trong từng giai đoạn của mỗi ngân hàng [8]. Mục tiêu của quản lý nợ xấu Mục tiêu: Phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức càng thấp càng tốt; giảm thiểu rủi ro, tổn thất do nợ xấu gây ra; tăng cường xử lý, thu hồi các khoản nợ xấu đã phát sinh. 7 Theo một cách chung nhất thì mục tiêu của quản lý nợ xấu trong bất kỳ hoàn cảnh nào và đối với bất kỳ ngân hàng nào thì đó chính là việc phải xây dựng và thực thi được một quy chế, chính sách sàng lọc, lựa chọn khách hàng phù hợp với từng thời kỳ sao cho phải hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro không thể thu hồi được của các khoản cho vay mà không ảnh hưởng tới mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.
Quản lý nợ xấu là một bộ phận của quản lý RRTD, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của NHTM. Do đó, quản lý nợ xấu cần phải tập trung vào việc đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM. Quản lý nợ xấu phải hướng vào mục tiêu đưa ra được những giải pháp xử lý có hiệu quả nhất và giảm tới mức thấp nhất tổn thất cho NHTM. Nói đúng hơn quản lý nợ xấu nhằm mục tiêu giảm thấp nhất tổn thất gặp phải, nâng cao mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng khoa học và có hiệu quả.
Sự cần thiết phải quản lý nợ xấu Do sự tác động và ảnh hưởng tới nhiều mặt, nhiều đối tượng của nợ xấu, đặc biệt là ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của NHTM. Vì vậy đòi hỏi các ngân hàng thương mại cần có chiến lược tăng cường quản lý nợ xấu để đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Hoạt động tín dụng đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Tổn thất nếu xảy ra sẽ làm giảm thu nhập, có thể thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng.
Vì vậy, an toàn tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi NHTM. Có hai mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lời trong hoạt động tín dụng. Trước khi tài trợ, mối quan hệ có thể là rủi ro cao hoặc thấp trong ngắn hạn nhưng đều phải xác lập mối quan hệ giữa rủi ro và sinh lợi nhằm đảm bảo tăng thu nhập cho ngân hàng trong dài hạn. Nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, giải quyết và bù đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dung chính của quản lý nợ xấu, nhằm đạt được mục tiêu gia tăng thu nhập cho ngân hàng trên cơ sở an toàn của từng khoản vay, của cả danh mục khoản vay.
Nội dung của quản lý nợ xấu Quản lý nợ xấu có ý nghĩa, vai trò quan trọng đối với công tác quản lý nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung. Vì vậy, công tác quản lý nợ xấu phải được xây dựng và triển khai một cách đúng đắn, khoa học và phù hợp với thực tiễn của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Để các mục tiêu của quản lý nợ xấu mang lại hiệu quả trong hoạt động quản lý thì vấn đề đầu tiên nhà quản lý cần phải nắm được nội dung của quản lý nợ xấu, được thể hiện qua các bước, quy trình như sau: 1. Nhận biết và phân loại nợ xấu Nhận biết nợ xấu là nội dung đầu tiên trong quá trình quản lý nợ xấu của ngân hàng, theo đó NHTM căn cứ vào một số dấu hiệu, tiêu chí nhất định để nhận diện hoặc xác định khoản nợ đó có phải là nợ xấu hay không.
Mỗi nền kinh tế khác nhau, dựa trên sự phát triển của thị trường tài chính mà mỗi ngân hàng có những cách tiếp cận khác nhau để nhận biết và phân loại nợ xấu. Tuy nhiên, chung nhất ta có thể nhận biết nợ xấu thông qua cách phân loại nợ xấu của ngân hàng thế giới (WB).