mở đầu của một chu trình quản lý ngân sách. Xét trên góc độ quản lý, dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng ngân sách. Từ đó, làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chi theo dự toán. - Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi ngân sách được thể hiện: Mọi nhu cầu chi dự kiến cho năm kế hoạch phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan có thẩm quyền từ thấp đến cao.
Quyết định cuối cùng cho dự toán chi của ngân sách thuộc về Quốc hội. - Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi, mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt để phân bổ, sử dụng và hạch toán theo đúng mục lục ngân sách đã quy định. - Định kỳ, theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định, các ngành, các cấp, các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh. Dự toán chi được xác lập như thế nào thì quyết toán chi cũng phải lập như vậy (Cục Tài chính, 2004).
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính. Trong phân bổ, sử dụng các nguồn lực phải tính toán với chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt nhất. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả thể hiện: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 10 - Xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng, tính chất công việc và phải có tính thực tiễn cao. - Thiết lập được các hình thức cấp phát đa dạng cho các loại hình đơn vị, quản lý từng nhóm mục chi một cách phù hợp.
- Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động, các nhóm mục chi đạt chất lượng cao. - Khi đánh giá tính hiệu quả chi ngân sách phải có quan điểm toàn diện, đạt được những lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội. Nguyên tắc thống nhất, cân đối ngân sách Nguyên tắc thống nhất, cân đối ngân sách xuất phát từ cơ sở phải cân đối giữa nhu cầu và khả năng của nền kinh tế, giữa thu ngân sách và chi NSNN, giữa NSNN dự chi cho quốc phòng và nhu cầu chi tiêu quốc phòng hàng năm. Nguyên tắc thống nhất là mọi khoản thu, chi NSSD của mọi cấp, mọi ngành đều được phản ánh vào kế hoạch thống nhất; được quản lý từ cấp BQP đến các đơn vị dự toán cơ sở.
Nguyên tắc cân đối được thể hiện trong khi các khoản chi thuộc NSSD chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ nguồn kinh phí xác định được đáp ứng (Cục Tài chính, 2004). Nguyên tắc công khai, dân chủ, công bằng Công khai NSSD là một nội dung của công khai tài chính, nhằm bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đơn vị, của mọi quân nhân trong quá trình phân phối, quản lý và sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước, Quân đội và các khoản thu tại đơn vị. Công khai NSQP nói chung và công khai nội dung NSSD nói riêng phải được thực hiện hàng năm, thực hiện công khai cả khâu lập DTNS và quyết toán NSSD, số liệu và các thông tin công khai ngân sách phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, kịp thời và phù hợp với chế độ bảo mật tới từng đối tượng tiếp nhận thông tin theo những hình thức thích hợp (Cục Tài chính, 2004). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác Một trong những yêu cầu của quản lý ngân sách nói chung và quản lý NSSD nói riêng là phải minh bạch, phải tạo môi trường trong suốt từ khâu lập DTNS đến chấp hành ngân sách và QTNS. Minh bạch trong quản lý ngân sách là một trong những yếu tố bảo đảm tính hiệu quả của quản lý ngân sách. Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác đòi hỏi nội dung chi NSSD khi xây dựng phải khoa học, rõ ràng và theo đúng hệ thống mục lục ngân sách nhà nước áp dụng trong quân đội; dự toán thu, dự toán chi kinh phí được tính toán một cách cụ thể, chính xác và đưa vào kế hoạch (Cục Tài chính, 2004). Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước Thực hiện chi trực tiếp qua KBNN (Kho bạc Nhà nước) là một nguyên tắc trong quản lý chi ngân sách.
- Để thực hiện nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN phải thể hiện: + Tất cả các khoản chi ngân sách phải được kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. + Tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính và KBNN. + Đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm duyệt dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị cấp dưới… + Kho Bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán theo đúng quy định… Thủ trưởng cơ quan KBNN có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện theo quy định… + Lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện tại (Cục Tài chính, 2004). Yêu cầu quản lý ngân sách sử dụng Ngân sách sử dụng là một bộ phận của NSQP.
Quản lý NSSD phải đáp ứng các yêu cầu của quản lý NSQP nói chung, yêu cầu quản lý NSSD nói riêng, đồng thời phải đáp ứng được các yêu cầu quản lý tài chính cũng như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 12 tính chất của nhiệm vụ cụ thể từng ngành, cụ thể là: a. Quản lý ngân sách sử dụng phải đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao Ngân sách sử dụng có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khoẻ của bộ đội, đến các hoạt động thường xuyên của đơn vị. Do vậy, bảo đảm NSSD đúng, đủ, kịp thời cho các yêu cầu của các đơn vị trong Nhà trường thực hiện nhiệm vụ là yêu cầu cơ bản hàng đầu, là trách nhiệm của cơ quan tài chính các cấp trong quản lý và điều hành ngân sách (Học viện Hậu cần, 2004). Quản lý ngân sách sử dụng phải liên tục, chặt chẽ, toàn diện trên tất cả các khâu quản lý Quản lý toàn diện là yêu cầu cơ bản trong quản lý tài chính đối với các khoản kinh phí thuộc NSQP, đặc biệt là đối với NSSD nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách; vật tư, tài sản trong mỗi cơ quan đơn vị.
Biểu hiện tập trung nhất của quản lý toàn diện là quản lý chặt chẽ, thường xuyên cả phần tiền và hiện vật, cả trong khâu lập dự toán, chấp hành và QTNS, kiểm tra, kiểm toán ngân sách kết hợp quản lý chặt chẽ chỉ tiêu phần tiền với quản lý chỉ tiêu phần hiện vật được tiến hành ở các ngành cũng như từng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách (Học viện Hậu cần, 2004). Tăng cường phân cấp ngân sách cho các đơn vị cơ sở Phân cấp ngân sách là quá trình đơn vị cấp trên giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho đơn vị cấp dưới trong hoạt động quản lý ngân sách. Phân cấp trong điều hành, quản lý ngân sách được xem như một phương thức để tăng tính dân chủ, nâng cao tính chủ động cho dưới, đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của đơn vị cơ sở trong chi tiêu sử dụng ngân sách từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách (Học viện Hậu cần, 2004). Nội dung quản lý ngân sách nhà nước Một chu trình ngân sách có ba khâu nối tiếp nhau: Lập ngân sách, chấp hành ngân sách và QTNS.
Trong một năm ngân sách, đồng thời có cả ba Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 13 khâu: chấp hành ngân sách của chu trình hiện tại, QTNS của chu trình trước và lập ngân sách của chu trình sau: 1. Quản lý chu trình ngân sách sử dụng a. Lập dự toán ngân sách sử dụng -Ý nghĩa tác dụng: Quy trình quản lý ngân sách nói chung bao gồm các khâu lập, chấp hành và QTNS, trong đó lập dự toán ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của quá trình quản lý ngân sách trong một niên độ nhất định. Lập dự toán ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu, chi của ngân sách trong một niên độ nhất định, dự toán thu, chi ngân sách được lập chính xác, đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng trong việc điều hành và quản lý ngân sách, là căn cứ để bảo đảm kinh phí cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao trong năm kế hoạch.
Dự toán ngân sách lập ra được cấp có thẩm quyền phê duyệt và giao cho đơn vị là căn cứ pháp lý đảm bảo cho quá trình cấp phát, chi tiêu ngân sách đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, đúng nội dung và thanh quyết toán chính xác. Đồng thời nó cũng là căn cứ để thực hiện kiểm tra, giám đốc tài chính trước khi chi tiêu đối với các ngành, các đơn vị sử dụng ngân sách. Dự toán ngân sách giúp cho lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chỉ đạo các mặt hoạt động công tác trong phạm vi đơn vị mình, đồng thời giúp cơ quan tài chính cấp trên nắm được nhu cầu đơn vị mình (Cục Tài chính, 2002). -Yêu cầu đối với dự toán ngân sách Phải thể hiện được toàn bộ nhu cầu chi cho các mặt hoạt động và nguồn thu tại đơn vị dựa trên hệ thống chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 14 Dự toán ngân sách năm phải lập theo đúng mẫu biểu, đúng thời gian quy định và chi tiết đến từng tiểu mục, ngành của mục lục NSNN áp dụng trong quân đội. Lập trên cơ sở dự toán ngân sách của các ngành, các đơn vị cấp dưới được phân tích theo ngành và lĩnh vực chi. Đúng trọng tâm, trọng điểm, đúng nội dung theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng và hướng dẫn của Cục Tài chính-BQP.