Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG KHU VỰC LÀM VIỆC KHÔNG CÓ QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Khái niệm chung về quản lý nhà nước an toàn, vệ sinh lao động 1. Những vấn đề lý luận chung về quản lý Khái niệm về quản lý khá phức tạp và đa dạng, có thể thấy có nhiều cách lý giải khác nhau về quản lý. Quản lý ra đời từ xa xưa, cùng với sự hợp tác và phân công lao động.Mác đã coi sự xuất hiện của quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động được phối hợp lại.
Chức năng quản lý là chức năng của một nhạc trưởng thể hiện ở sự điều hoà những hoạt động cá nhân. Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật điều khiển người khác. Theo giáo trình "Quản lý hành chính Nhà nước" của Học viện Hành chính Quốc gia thì khoa học và thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng quản lý được hiểu theo hai góc độ: góc độ tổng hợp mang tính chính trị - xã hội và góc độ mang tính hành động thiết thực. Theo góc độ chính trị - xã hội thì quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, còn theo góc độ hành động (qui trình công nghệ của tác động) thì qui trình quản lý là điều khiển.
Theo khái niệm này, có ba loại hình quản lý, đều có một xuất phát điểm chung là "do con người điều khiển", nhưng khác nhau về đối tượng, đó là: - Con người là trung tâm, điều khiển các vật hữu sinh, song không bắt chúng phải thực hiện ý đồ và ý chí của người điều khiển. Đó là quản lý trong môi trường, sinh học, thiên nhiên. - Con người điều khiển các vật vô tri, vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của người. Đó được xem là quản lý kỹ thuật.
- Con người điều khiển con người. Đó là quản lý xã hội. Sau đây, chúng ta quan tâm nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba, quản lý xã hội. Luan van 6 Chúng ta biết rằng, đối tượng của quản lý là những tổ chức, con người cụ thể cùng các nguồn lực và công việc của họ, cho nên dựa vào sự khác nhau của các lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội và các dạng tổ chức khác nhau mà chúng ta có thể phân loại quản lý thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô, quản lý các tổ chức xã hội, khoa học, kinh tế, giáo dục, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự v.
Nói về quản lý vĩ mô là quản lý quốc gia nói chung, là quản lý của Nhà nước về những lĩnh vực, ngành kinh tế, quốc phòng an ninh, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục, dân số và lao động, ATVSLĐ,. còn quản lý vi mô là quản lý một tổ chức cụ thể như một doanh nghiệp, cơ quan, trường học. mà chúng ta có thể gọi chung là quản lý ở cơ sở. Giữa quản lý vĩ mô và quản lý vi mô có mối quan hệ qua lại với nhau.
Quản lý vĩ mô là quản lý một cách gián tiếp bằng đường lối chung, pháp luật, chính sách, công cụ điều tiết tạo ra môi trường chung cho các tổ chức vi mô (cơ sở) hoạt động. Đồng thời kết quả hoạt động của các tổ chức vi mô là hiệu quả và sự thành bại của các chính sách quản lý vĩ mô. Từ phân tích trên, cho thấy quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước về An toàn và vệ sinh lao động Quản lý xã hội là quá trình phức tạp, đa dạng vì đối tượng tác động - khách thể của nó là hành vi con người có ý chí và tư duy độc lập, là hoạt động của cơ quan, tổ chức của con người.
Chủ thể của quản lý xã hội là Nhà nước, một tổ chức chính trị đặc biệt, các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị (giai cấp, chính đảng, tổ chức xã hội. Như vậy quản lý xã hội bao hàm khái niệm quản lý các công việc của Nhà nước (tức là phần quản lý xã hội do Nhà nước đảm nhận, hay còn gọi là quản lý Nhà nước) và quản lý các công việc xã hội (phần quản lý xã hội còn lại do các chủ thể khác đảm nhận). Luan van 7 Ta có thể hiểu quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy của nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, nhằm giữ gìn trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định. Như vậy, quản lý nhà nước là khoa học sử dụng quyền lực để tổ chức, điều hành công việc quản lý của Nhà nước trên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội.
Nó cũng là nghệ thuật chỉ huy với sự vận dụng sáng tạo, thích ứng với tình thế nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật để đem lại hiệu quả cao nhất cho công việc. Để thực hiện nhà nước quản lý có hiệu quả, cần phải thực hiện tốt qui trình quản lý bao gồm 7 vấn đề sau đây: - Quy hoạch và kế hoạch: trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm, đường lối của Đảng và sính sách pháp luật của Nhà nước, xây dựng kế hoạch quy hoạch cụ thể cho lĩnh vực mà chúng ta đang quản lý. - Tổ chức bộ máy: cần xây dựng một bộ máy gọn nhẹ, có qui định chức năng, nhiệm vụ, quan hệ phối hợp đầy đủ và quản lý chặt chẽ hoạt động của bộ máy quản lý. - Sắp xếp, bố trí, quản lý nhân sự: cần xây dựng tiêu chuẩn, yêu cầu và sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức vào các nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy; quản lý, đánh giá chính xác đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với họ.
- Ra các quyết định quản lý: trên cơ sở tập hợp đầy đủ các thông tin, xử lý và đề ra phương án khác nhau, lựa chọn và thẩm định sau đó ban hành các quyết định quản lý nhà nước. - Phối hợp: cần phải có một cơ chế phối hợp có hiệu quả trong quá trình thực hiện các hoạt động. - Sử dụng các nguồn lực: đây là một nội dung quan trọng, liên quan đến ngân sách, tài chính, cơ sở vật chất cần được khai thác, quản lý một cách có hiệu quả, chặt chẽ. Luan van 8 - Chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết, đánh giá: có sự chỉ đạo sát sao để thực hiện các quyết định, đồng thời phải tiến hành kiểm tra, đánh giá để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời, cần sơ, tổng kết, đánh giá kết quả việc thực hiện các quyết định quản lý.
Như đã trình bày ở phần trên, quản lý nhà nước là vĩ mô về các lĩnh vực của đời sống xã hội khác nhau. Trong thực tế hiện nay, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý trên tất cả các mặt chủ yếu của xã hội: kinh tế, quốc phòng và an ninh, về tài chính, tiền tệ, về văn hoá tư tưởng, về khoa học công nghệ, về y tế, về giáo dục, về dân số và lao động. Các lĩnh vực quản lý nhà nước nói trên đã được thực hiện trong nhiều năm với mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng, phương pháp quản lý đã được xác định rõ, ngày càng đổi mới, hoàn thiện. Trong khi đó, quản lý nhà nước về ATVSLĐ tuy cũng đã được thực hiện trong nhiều năm qua, nhất là từ khi có Bộ luật Lao động (1995), nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, chưa được giải quyết tốt và hoàn chỉnh.
Bởi vậy, việc không ngừng nghiên cứu để góp phần xây dựng, hoàn thiện sự quản lý nhà nước về ATVSLĐ là nội dung quan trọng trong chiến lược về ATVSLĐ của nước ta. Nói đến quản lý nhà nước về ATVSLĐ là nói đến các cơ quan quản lý của Nhà nước, trên cơ sở những văn bản pháp luật chủ yếu đã được Quốc hội thông qua, ban hành, các văn bản pháp qui dưới luật, sử dụng các phương pháp quản lý nhà nước thích hợp, thực hiện các hoạt động theo qui trình quản lý để chỉ đạo, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động ATVSLĐ nhằm phát triển công tác này đạt mục tiêu đã đề ra. Ở đây có một vấn đề đặt ra từ trong thực tiễn hoạt động ATVSLĐ những năm qua là làm sao phân biệt rõ chức năng của quản lý nhà nước với hoạt động của các cơ quan chuyên môn, tổ chức xã hội để tránh sự dẫm đạp, chồng chéo, bao biện lẫn nhau và cũng không để sót việc, không có người chăm lo đến hoạt động này. Theo quan điểm đó, quản lý nhà nước là tạo ra hành lang pháp lý, hướng dẫn, điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động phải đi đúng Luan van 9 quỹ đạo, nằm đúng trong hành lang pháp lý đó, còn các cơ quan chuyên môn, khoa học, các tổ chức, cá nhân khi đã tôn trọng hành lang pháp lý đó thì được phép thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn, khoa học của mình.
Tránh việc cơ quan quản lý vừa tạo hành lang pháp lý, vừa đứng ra hoạt động tác nghiệp chuyên môn, khoa học, không cho phép và không tạo điều kiện cho các cơ quan chuyên môn, khoa học hoạt động tác nghiệp của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động trên thế giới Có thể thấy, tùy thuộc vào mỗi mước hệ thống luật pháp của quốc gia mà mỗi nước có một cách quản lý ATVSLĐ riêng. Tuy nhiên về cơ bản nó cũng giống như nội dung của công ước 187 của ILO, tức là quản lý trên nền tảng của các luật ATVSLĐ với các tiêu chuẩn qui phạm kỹ thuật.
Dưới đây, là hệ thống quản lý ATVSLĐ chung ở một số nước trên thế giới. Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về quản lý ATVSLĐ trong các doanh nghiệp. Ví dụ như: Alexander Cohen, Michael J.