Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Căn cứ vào mục đích điều tiết thì hệ thống thuế được phân chia thành hai loại thuế là thuế trực thu và thuế gián thu.
Tùy vào điều kiện phát triển, phương thức sản xuất và kết cấu xã hội của mỗi nước mà cơ cấu của các khoản thu này có sự khác nhau. Hiện nay, tại các nước phát triển có xu hướng chú trọng thuế gián thu, trong khi đó tại các nước đang phát triển lại có xu hướng ngược lại đó là chú trọng thuế trực thu, trong đó điển hình là thuế TNDN. Trước năm 1990, ở Việt Nam có một loại thuế đánh vào thu nhập của doanh nghiệp gọi là thuế lợi tức. Loại thuế này chỉ áp dụng cho kinh tế ngoài quốc doanh.
Sau năm 1990, thực hiện công cuộc cải cách hệ thống chính sách thuế, Luật thuế lợi tức được ban hành và được áp dụng thống nhất đối với tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đến năm 1997, Quốc hội đã thông qua Luật thuế TNDN thay thế cho Luật thuế lợi tức. Sau một số lần sửa đổi bổ sung, Luật thuế TNDN ngày càng trở nên có hiệu quả và thu được những thành tựu khả quan. Khái niệm về thuế TNDN: Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế.
Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, tính trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thuế TNDN mang đặc điểm của một loại thuế trực thu như: Thuế này có tính công bằng hơn thuế gián thu vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng. Loại thuế này có nhược điểm là hạn chế phần nào sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng, vì thu nhập và lợi nhuận càng cao thì số thuế phải nộp càng nhiều. Thuế trực thu do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà nước, nên họ cảm nhận ngay được gánh nặng về thuế và có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn thuế.
Việc quản lý thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu. - Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, mức động viên vào NSNN phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ đối với người nộp thuế có thu nhập chịu thuế (có lợi nhuận) mới phát sinh số thuế TNDN phải nộp. Đặc điểm này được thể hiện rất rõ qua công thức tính thuế TNDN: Thuế TNDN phát sinh = Thu nhập chịu thuế * thuế suất Trong đó Thu nhập chịu thuế = Thu nhập - Chi phí (Thu nhập bao gồm doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, các khoản thu nhập khác; Chi phí bao gồm các khoản chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh như: chi phí giá vốn hàng bán trong kỳ, chi phí quản lý kinh doanh, chi phí bán hàng, các khoản chi phí khác .) Thuế suất thuế TNDN được quy định cụ thể theo từng thời gian nhất định - Thuế TNDN thường mang tính lũy tiến, đảm bảo công bằng xã hội.
Kinh tế thị trường tạo ra khoảng cách ngày càng lớn về thu nhập, kéo theo đó là quá trình phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn trong xã hội. Để đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, Nhà nước sử dụng các loại thuế trong đó có thuế TNDN để điều tiết thu nhập nhận được của các tổ chức: Tổ chức không có thu nhập thì không phải nộp thuế, người có thu nhập thì phải nộp thuế, người có thu nhập cao thì phải nộp thuế cao hơn người có thu nhập thấp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Thông qua đánh thuế, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, nhờ đó san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN.
Điều này được thể hiện qua phạm vi áp dụng của thuế TNDN là rất rộng. Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế có tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn. Mặt khác cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao, sẽ tạo nguồn thu về thuế cho NSNN ngày càng lớn. - Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Bên cạnh đó nhà nước cũng đưa ra mức thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nước đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế. Nhà nước không chỉ khuyến khích đầu tư bằng việc đưa ra mức thuế suất hợp lý mà Nhà nước còn sử dụng thuế TNDN như một biện pháp thu hút vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất kinh doanh bằng việc ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN theo các mức khác nhau. - Thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thực hiện chính sách công bằng xã hội.
Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng công bằng về chiều ngang mà còn công bằng cả về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 chiều dọc. Về chiều ngang, bất kể một doanh nghiệp nào kinh doanh bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN. Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế TNDN.
Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn doanh nghiệp có thu nhập thấp (theo số tuyệt đối). Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được chính thức thừa nhận kể từ Đại hội Đảng lần thứ IV diễn ra vào năm 1976. Khi đó, Đại hội đã nhận định: Trong xã hội ta còn nhiều người có sức lao động, chưa có việc làm, chưa sử dụng hết thời gian lao động, khả năng thu hút sức lao động của khu vực Nhà nước là có hạn trong khi nguồn vốn của Nhà nước eo hẹp thì nguồn dự trữ vốn trong nhân dân hầu như chỉ để đưa vào tiêu dùng, cất giữ.
Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội. Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán, nhưng rất quan trọng trong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm. Từ đó, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được thừa nhận. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý.
Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bằng nguồn vốn của cá nhân hoặc một số cá nhân đóng góp, theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có các đặc điểm sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh mang tính sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận, hiệu quả sản xuất gắn liền với quyền lợi cá nhân người sản xuất. - Mục tiêu lớn nhất trong kinh doanh là lợi nhuận, họ có thể sẵn sàng bằng bất kỳ giá nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm. Do vậy nhiều khi mang lại hậu quả xấu cho xã hội.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường tự phát và khó quản lý, không ít cơ sở kinh doanh trái phép và hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế cũng diễn ra nhiều hơn ở các loại hình doanh nghiệp này. - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường có quy mô nhỏ do ít vốn, cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt dễ dàng thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Nhân viên thì thường đảm nhiệm công việc theo kiểu kiêm nhiệm với mức lương thường là thấp. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giúp khai thác các tiềm năng to lớn của nền kinh tế.
Cùng với các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần lớn trong việc tìm kiếm những mảnh đất màu mỡ của nền kinh tế chưa được khai thác đến. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi có hàm lượng tri thức cũng như có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong những lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi nhuận thấp mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm tới. - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cầu nối quan trọng để nền kinh tế nước ta từng bước hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới bởi đây là khu vực các doanh nghiệp năng động.