CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT VÀ KIỂM TRA THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT 1.1 Khái niệm và đặc điểm thuế GTGT Khái niệm: Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng. Đặc điểm: Thứ nhất Thuế GTGT là thuế gián thu: Thuế GTGT không phải là chi phí của người bán mà nó chỉ là giá trị tăng thêm của hàng hóa qua các khâu được trả bởi người mua. Thứ hai Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập: Khi thu nhập tăng thì tỷ lệ điều tiết của thuế GTGT so với thu nhập giảm.
Thứ ba Thuế GTGT đánh trên nhiều giai đoạn: Chỉ tính trên giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng thuế GTGT thu được ở các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dung cuối cùng. Thứ tư Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế. Không bị ảnh hưởng bởi sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế.
Thứ năm Thuế GTGT có tính lãnh thổ: Đối tượng chịu thuế GTGT là người tiêu dung hàng hóa dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nội dung cơ bản của thuế GTGT Đối tượng chịu thuế GTGT: Toàn bộ hàng hóa dịch vụ dung cho sản xuất kinh doanh và tiêu dung ở Việt Nam( bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế. Đối tượng không chịu thuế: 26 nhóm hàng hóa dịch vụ mang tính chất: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hàng hóa, dịch vụ mang tính thiết yếu. Hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội, không mang tính chất kinh doanh.
Hàng hóa, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích. Hàng hóa nhập khẩu thực chất không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam. Hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm. Đối tượng nộp thuế: các tổ chức, cá nhân.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam (gọi là cơ sở kinh doanh). Nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu). Căn cứ tính thuế GTGT Giá tính thuế: Giá bán chưa có thuế GTGT ghi trên hóa đơn của người bán, người cung cấp dịch vụ hoặc trên chứng từ của hàng nhập khẩu. Thuế suất thuế GTGT Thuế suất 0% : áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hóa, dich vụ là nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất, nông nghiệp… Thuế suất 10%: áp dụng cho các hàng hóa, dịch vụ thông thường. Phương pháp tính thuế a) Phương pháp khấu trừ: Đối tượng áp dụng: - Trường hợp mức doanh thu năm 2013 (được xác định theo hướng dẫn tại điểm 1 nêu trên) từ một tỷ đồng thì doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong năm 2014. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trường hợp mức doanh thu năm 2013 (được xác định theo hướng dẫn tại điểm 1 nêu trên) dưới một tỷ đồng và doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ và có Thông báo gửi cơ quan thuế trước ngày 31/12/2013 về việc đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ để tính thuế GTGT (Thông báo theo Mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính) thì doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong năm 2014. Xác định thuế GTGT phải nộp : Số thuế GTGT Số thuế GTGT đầu = Số thuế GTGT đầu ra - phải nộp vào - Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x Thuế suất - Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo nguyên tắc, điều kiện khấu trừ thuế GTGT quy định tại Thông tư 219/2013/TT- BTC.
b) Phương pháp trực tiếp: Đối tượng áp dụng: Trường hợp mức doanh thu năm 2013 (được xác định theo hướng dẫn tại điểm 2 nêu trên) dưới một tỷ đồng và doanh nghiệp không đăng ký tự nguyện để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì chuyển sang áp dụng phương pháp trực tiếp và sử dụng hóa đơn bán hàng khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ ngày 01/01/2014 (không được sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng). Các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế phải có phương án đặt in hóa đơn bán hàng để sử dụng từ ngày 01/01/2014. Xác định thuế GTGT phải nộp: GTGT của hàng Thuế suất áp dụng Số thuế GTGT phải = hóa, dịch vụ chịu x cho hàng hóa, dịch nộp thuế đầu ra vụ đó 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công tác kiểm tra thuế GTGT 1.
Những vấn đề chung về kiểm tra thuế 1. Khái niệm, đặc điểm kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra. Kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế.
Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế. Thứ ba, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra, phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy, lôgic….và cần có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Vai trò của kiểm tra thuế - Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách thuế, cải cách thủ tục hành chính.Thông qua kiểm tra thuế mà có thể tìm thấy được những bất cập của luật, chính sách thuế trong thực tế; đồng thời phát hiện ra những thủ tục hành chính còn khiếm khuyết, không cần thiết không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện chính sách, thủ tục cho phù hợp, hiệu quả hơn.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật về thuế: với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế chính là hoạt động xem xét, kiểm tra tại chỗ làm của các tổ chức, DN và cơ quan, cá nhân xem có làm đúng quy định của pháp luật hay không? Thông qua đó, nếu phát hiện hành vi vi phạm sẽ sử dụng các biện pháp chế tài nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế, truy thu thuế cho NSNN. Nguyên tắc của kiểm tra thuế Thứ nhất nguyên tắc tuân thủ pháp luật tức là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện chức năng, trách nhiệm, quyền hạn pháp luật quy định; xem xét đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, kết luận kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thứ hai, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Nguyên tắc trung thực, chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn, quy chụp một cách chủ quan và phải tiến hành công việc một cách thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi phải phản ánh, đánh giá đúng bản chất của sự vật hiện tượng, vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân, phải tỷ mỷ, cẩn thận và có chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.
Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ Tính công khai tức cụ thể như: công khai quyết định kiểm tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng liên quan và công bố công khai kết quả kiểm tra… Dân chủ là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Phải coi trọng việc tiếp nhận thu thập ý kiến của mọi đối tượng liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày các ý kiến của mình. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ bí mật: Cần quán triệt nguyên tắc này vì trong quá trình kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của DN, bí mật quốc gia. Do vậy, chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết.
Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả: công tác kiểm tra thuế phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế. Phương pháp kiểm tra thuế - Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro: Bản chất của việc vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiểm tra thuế là việc phân loại, đánh giá NNT dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những NNT có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập trung nguồn lực kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực kiểm tra những NNT có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất. Theo chuẩn mực 3100 của Tổ chức chuẩn mực quốc tế, quy trình quản lý rủi ro gồm 7 bước sau: (i) Xác định hoàn cảnh có thể xảy ra rủi ro; (ii) Nhận diện rủi ro; (iii) Đánh giá rủi ro; (iv) Xử lý rủi ro tiềm tàng; (v) Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro; (vi) Thực hiện kế hoạch quản lý rủi ro; (vii) Rà soát, đánh giá kế hoạch quản lý rủi ro. - Phương pháp đối chiếu, so sánh: Là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc kiểm tra thuế.