Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam- Chi nhánh Keang Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam- Chi nhánh Keang Nam. Luan van 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động của ngân hàng thương mại Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế và phát hành giấy bạc ngân hàng. Sang thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển.
Việc các ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế. Chính điều này đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng. Loại hình ngân hàng hiện đại thật sự xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 17, với việc thành lập những ngân hàng: Ngân hàng Amxtecđam năm 1609 ở Hà Lan, ngân hàng Hamburg năm 1619 ở Đức, ngân hàng Anh quốc năm 1649. Ngày nay, hệ thống ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới là ngân hàng hai cấp trong đó có Việt Nam: NHTW là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, là ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của chính phủ còn các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ.
Do vậ y ở mỗi quốc gia khác nhau, hình thành m ột khái niệm khác nhau về NHTM. Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình th ức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghi ệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 4 Luật Các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành 29/06/2010:“Ngân hàng thương mại là một loại hình ngân Luan van 8 hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ban hành 29/06/2010 đưa ra định nghĩa : “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Từ những định nghĩa trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Phân loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại Các NHTM đã tập trung và huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bằng nhiều phương thức khác nhau để tạo lập nguồn vốn hoạt động cho mình, theo đó thì: “Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác” được Peter Ross viết trong Sách Quản trị ngân hàng thương mại, trang 557. Bản chất, nguồn vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào NH để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho NH để rồi NH phải trả lại cho họ một khoản thu nhập.
Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khái niệm đó đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên nguồn vốn của NHTM. Nguồn vốn của ngân hàng có thể là vốn chủ sở hữu của ngân hàng, vốn huy động, vốn đi vay hay các nguồn vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động và đều có tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM, trong đó nguồn vốn đi vay là chủ yếu và quan trọng bởi nguồn Luan van 9 này tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng và các hoạt động về nguồn vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của cấc Ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với các hoạt động của các NHTM trong việc thực hiện các chức năng của mình. Kết cấu nguồn vốn: Nguồn vốn của NHTM bao gồm: 1. Vốn chủ sở hữu - Vốn cổ phần; 2. Vốn huy động; 3.
Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn nhưng nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định nên Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử dụng cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi Ngân hàng hoạt động thua lỗ.
Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng. Quy mô và sự tăng trưởng vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM. Khi đánh giá về qui mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng đó. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy thuộc tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Luan van 10 Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là: Tỷ trọng vốn này trong tổng nguồn vốn thường là rất nhỏ (thường từ 5-10%). Có tính ổn định cao và luôn được bổ sung trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM. Quyết định quy mô hoạt động NHTM và là nhân tố xác định tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Thành phần vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ.
-Vốn điều lệ: Là nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ ngân hàng. Vốn điều lệ đươc ghi trong bản điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật và được gọi là vốn pháp định. Tùy vào từng loại hình ngân hàng mà Chính phủ quy định mức vốn pháp định khác nhau.
-Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ bù đắp rủi ro tín dụng. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm (lợi nhuận sau khi đã trừ thuế) của ngân hàng. Việc hình thành các quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh cho ngân hàng. Vốn huy động: Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ công chúng thông qua việc bán các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Vốn huy động của NHTM gồm: - Vốn tiền gửi: Là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của một NHTM. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán… nhưng không có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc Luan van 11 và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng. Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng thương mại rất đa dạng, tuỳ thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau: Theo kỳ hạn gửi tiền, theo mục đích, theo chủ thể và theo loại tiền.
Đặc điểm của tiền gửi: Tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn tiền gửi. Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi suất thấp hơn lãi đã cam kết với khách hàng. Chính vì vậy, NHTM cần phải duy trì một lượng tiền dự trữ đảm bảo khả năng thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Điều này được thể hiện ở việc các NHTM thực hiện yêu cầu của Ngân hàng Trung ương trong việc duy trì số dư tối thiểu tiền mặt tại quỹ, số dư tối thiểu tại Ngân hàng Trung ương. Ngoài ra, để đảm bảo tốt hơn khả năng thanh toán, NHTM còn gửi tiền ở các tổ chức tín dụng khác.