Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về xây dựng cơ chế phối hợp giữa Cơ quan thuế với hệ thống Ngân hàng thương mại và Hiệp hội doanh nghiệp nhằm hỗ trợ người nộp thuế. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng cơ chế phối hợp giữa Cục Thuế với hệ thống Ngân hàng thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa Cục Thuế với hệ thống Ngân hàng thương mại và Hiệp hội doanh nghiệp nhằm hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội. 4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THUẾ VỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHẰM HỖ TRỢ NGƢỜI NỘP THUẾ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Cơ quan thuế là cơ quan hành chính nhà nước, vừa thực hiện chức năng kiểm tra tuân thủ vừa thực hiện hỗ trợ người nộp thuế.
Từ khi chuyển sang cơ chế tự khai - tự nộp, công tác dịch vụ hành chính thuế ngày càng được chú trọng, vì thuế không chỉ là công cụ đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước mà còn là một công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đối với các nước nói chung và Việt Nam nói riêng, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Để làm tốt công tác hỗ trợ người nộp thuế, Cơ quan thuế cần có sự phối hợp tốt với các cơ quan liên quan như Ngân hàng thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp,…để thực hiện tuyên truyền chính sách pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế sử dụng các dịch vụ hiện đại để nộp NSNN. Với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng cả về quy mô và loại hình, Cục Thuế TP Hà Nội trong những năm qua đã chủ động trong việc phối hợp với các đơn vị để nâng cao chất lượng hỗ trợ người nộp thuế cũng như mong muốn mức độ hài lòng của doanh nghiệp về Cơ quan thuế thủ đô ngày càng tăng trong những năm tiếp theo.
Tính đến thời điểm hiện tại, qua khảo sát của tác giả chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này nhưng nhiều nghiên cứu liên quan đến cơ chế tự khai tự nộp, công tác phối hợp thu thuế giữa Cơ quan thuế và một số đơn vị với các góc độ nghiên cứu khác nhau và đối tượng nghiên cứu khác nhau như: - Nguyễn Văn Tuấn, 2005. “Một số giải pháp thực hiện cơ chế quản lý tự khai- tự nộp thuế tại tỉnh Bình Thuận”. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận văn tác giả nêu ra những vấn đề cơ bản của cơ chế tự khai- tự nộp và những điều kiện áp dụng cơ chế này ở Việt Nam đồng thời cũng đưa ra thực trạng chính sách thuế và cơ chế quản lý của Việt Nam nói chung và của Bình Thuận nói riêng.
“Khảo sát sự hài lòng của người nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ công tại Chi cục Thuế tỉnh Bình Dương” Luận văn Thạc sĩ, Đại 5 z học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đưa ra kết quả khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế đối với dịch vụ công đồng thời cũng đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế. Thông qua việc phân tích đó đưa ra những giải pháp về dịch vụ công để tăng mức độ hài lòng từ phía người nộp thuế. - Nguyễn Vân Trang, 2012.
“Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ Người nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Nam trong cơ chế tự khai- tự nộp”. Luận văn tốt nghiệp, Đại học Thương mại. Nghiên cứu thực trạng công tác tuyên truyền hỗ trợ Người nộp thuế trong cơ chế tự khai tự nộp, qua đó đề ra giải pháp giúp công tác này hiệu quả hơn. - Lê Thị Loan, 2014.
“Phối hợp thu thuế nội địa giữa Cơ quan thuế- Kho bạc- Ngân hàng thương mại ở Việt Nam”. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế- Đại học quốc gia Hà Nội. Trong luận văn này tác giả đi sâu vào nghiên cứu về phối hợp thu thuế nội địa giữa Cơ quan thuế- Kho bạc- Ngân hàng thương mại và nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này. - Nguyễn Quang Hùng, 2014.
Trao đổi về công tác phối hợp thu NSNN qua NHTM. Tạp chí Tài chính ngày 11/02/2014. Bài báo đã đưa ra được những lợi ích của việc thu thuế qua ngân hàng thương mại đồng thời đề cập đến những tồn tại, hạn chế qua đó đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị. Kho bạc, ngân hàng thương mại cùng phối hợp tạo thuận lợi cho người nộp thuế.
Thời báo Tài chính ngày 06/8/2016. Bài báo nêu ra công tác phối hợp thu NSNN giữa Kho bạc Nhà nước Bình Dương với các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã mang lại nhiều hiệu quả quan trọng, tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Các đề tài nghiên cứu trên đã nghiên cứu về công tác phối hợp của một số đơn vị liên ngành trong việc thu thuế cũng như mức độ hài lòng của người nộp thuế đối với dịch vụ hành chính thuế nhưng chưa đề tài nào tập trung vào việc phối hợp giữa Cơ quan thuế với các đơn vị liên quan để hỗ trợ Người nộp thuế. Với phương châm “Thu thuế, thu được lòng dân” vì thế để người nộp thuế nộp đúng, nộp đủ tiền thuế cũng như thực hiện các thủ tục hành chính thuế nhanh chóng thuận lợi cần có sự hỗ trợ của Cơ quan thuế và các đơn vị liên quan.
Do đó đề tài sẽ tập trung khai thác khoảng trống này và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Cơ quan thuế với hệ thống Ngân hàng thương mại và Hiệp hội doanh nghiệp nhằm hỗ trợ 6 z người nộp thuế trên địa bàn TP Hà Nội dựa trên cơ sở các tài liệu đã được nghiên cứu ở trên và các văn bản pháp luật mới nhất để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.2 Khái quát chung về thuế và quản lý thuế 1.1 Khái quát chung về chức năng, vai trò của thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. Thuế có ba chức năng, vai trò: - Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước: Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội. Thông qua chức năng này mà các các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế ngày càng được nâng cao. Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Chính sách thuế góp phần định hướng đầu tư trong nước, thực hiện ưu đãi theo ngành nghề hay vùng lãnh thổ, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành nghề hay vùng lãnh thổ. Thông qua thuế suất có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh tiến đến xác lập cân đối cung cầu hàng hóa.
Thuế còn thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước (xây dựng lộ trình giảm thuế khi gia nhập WTO). - Điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Thuế là công cụ để Nhà nước can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư có thể thông qua thuế trực thu bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế đánh vào của cải, thuế đánh vào đối tượng thường trú. Ngoài ra việc điều hòa thu nhập, định hướng tiêu dùng còn có thể được thực hiện một phần 7 z thông qua các sắc thuế gián thu bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế gắn với sản xuất và bán hàng hóa.2 Hoạt động hỗ trợ NNT Hỗ trợ NNT tức là việc hướng dẫn, giải thích, tư vấn cho NNT để hiểu rõ các vấn đề liên quan đến pháp luật thuế.
Nếu như hoạt động tuyên truyền thuế thường được thực hiện theo ý muốn chủ quan của CQT thì hoạt động hỗ trợ NNT thường được thực hiện theo yêu cầu và nguyện vọng NNT. Do đó hoạt động hỗ trợ NNT gồm có các nội dung sau đây: - Hướng dẫn, tư vấn các nội dung về pháp luật thuế; - Giải đáp vướng mắc của NNT phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế; - Hướng dẫn các thủ tục, quy trình chấp hành nghĩa vụ thuế: đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, miễn giảm thuế, xóa nợ thuế…; - Tư vấn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuế: hóa đơn, chứng từ,…; - Hướng dẫn, cung cấp thông tin cảnh báo trường hợp trốn thuế, gian lận thuế, chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế.3 Cơ chế tự khai, tự nộp và mô hình quản lý thuế theo chức năng 1.1Cơ chế tự khai, tự nộp Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế được thực hiện trên nền tảng sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của NNT. NNT căn cứ các qui định của pháp luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, tự kê khai thuế, nộp tờ khai đúng hạn và nộp thuế theo số đã tính. NNT có trách nhiệm lưu giữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh các số liệu đã kê khai.
CQT có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ chính sách thuế, các thủ tục về thuế, từ đó tự thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. CQT không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế.