CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khái niệm hoạt động cho vay được định nghĩa như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Trong đó, bên cho vay là các ngân hàng thương mại, bên vay là các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh, tiêu dùng,.
Nếu phân loại hoạt động cho vay theo đối tượng khách hàng thì hoạt động này bao gồm cho vay doanh nghiệp, cho vay các tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá nhân như đã trình bày ở trên. Trên cơ sở định nghĩa hoạt động cho vay nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể. Do vậy, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có thể hiểu là “Hoạt động cho vay trong đó ngân hàng tài trợ vốn cho các chủ thể là cá nhân và hộ gia đình nhằm phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi”. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Thứ nhất, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân rất phong phú vì khách hàng vay vốn rất đa dạng và mục đích sử dụng vốn linh hoạt.
Như đã nói ở trên, do đối tượng của cho vay khách hàng cá nhân hướng đến là tất cả người dân có thu nhập trong xã hội, mà tùy theo hoàn cảnh, thu nhập, và mong muốn của mỗi người mà mục đích vay vốn của họ là hoàn toàn khác nhau. Những khách hàng 6 Luan van là cá nhân, có thu nhập cao trong xã hội thì nhu cầu tiêu dùng của họ khác hoàn toàn với những cá nhân có thu nhập thấp, trung bình. Hoặc tùy vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, có người có những nhu cầu về nhà ở, về những vật dụng xa xỉ, về những phương tiện đi lại có giá trị cao như ô tô, xe máy… nhưng cũng có những người vay với mục đích đi du học hoặc để trang trải các nhu cầu chi tiêu cho y tế… Chính vì vậy sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân cũng phải đa dạng và phong phú, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng của mọi người dân, mọi tầng lớp trong xã hội. Thứ hai, giá trị mỗi món vay khách hàng cá nhân nhỏ nhưng khối lượng các món vay lớn.
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng và thu nhập hàng tháng của khách hàng mà giá trị các khoản vay thường khác nhau. Tuy nhiên có một điểm chung là giá trị các khoản vay này thường rất nhỏ so với các khoản vay cho khách hàng doanh nghiệp do đây là khoản vay phục vụ cho mục đích tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình, thêm vào đó, giá trị của hàng hóa tiêu dùng thường không quá lớn hoặc khách hàng vay vốn đã có sự tích lũy từ trước đối với những nhu cầu của mình… Trong điều kiện hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng theo đó đi lên, người tiêu dùng sẽ vay nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu của bản thân, gia đình do không phải ai cũng có khả năng chi trả cho nhưng nhu cầu tiêu dùng của mình bằng nguồn thu nhập trong thời điểm hiện tại. Điều này dẫn đến số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn là rất đông khiến tổng quy mô cho vay khách hàng cá nhân trở nên rất lớn. Thứ ba, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Số lượng của các khoản vay đối với KHCN rất lớn giúp NHTM phân tán được rủi ro nhưng các khoản vay này vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Đó là do tình hình tài chính của KHCN thường xuyên thay đổi theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. KHCN thành lập cơ sở kinh doanh thường tự phát nên có thể hoạt động kinh chưa tốt do trình độ quản lý kém, thiếu kinh nghiệm, chuyên môn, khoa học công nghệ chưa hiện đại dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường không cao. Tình hình tài chính của khách hàng không ổn định khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ khó thu hồi vốn khi khách hàng phá sản, ốm đau, thất nghiệp,… Ngoài ra KHCN còn gặp khó khăn trong 7 Luan van việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN do thông tin không cân xứng, các thông tin về cá nhân thường không được tiết lộ.
Diều đó khiến NHTM khó có thể ra quyết định cho vay KHCN một cách chuẩn xác và phải luôn quản lý chặt chẽ các khoản vay đối với KHCN. Để hạn chế bớt rủi ro, trong hầu hết các khoản cho vay khách hàng cá nhân, các ngân hàng thương mại đều đòi hỏi khoản vay phải có đảm bảo bằng tài sản. Thứ tư, chi phí cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn cho vay doanh nghiệp. Chi phí mà các ngân hàng thương mại bỏ ra đối với các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường lớn cả về chi phí nhân lực và công cụ.
Bởi đối tượng cho vay khách hàng là cá nhân có diễn biến phức tạp, số lượng các khoản vay là lớn, song quy mô mỗi khoản vay lại tương đối nhỏ. Thứ năm, các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường có lãi suất cao. Lãi suất cho vay của các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn so với các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp. Nguyên nhân bởi vì chi phí cho vay khách hàng cá nhân tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất.
Thứ sáu, thời hạn cho vay khách hàng cá nhân khá đa dạng. Thời gian vay vốn của khách hàng cá nhân đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Thời hạn cho vay khách hàng cá nhân còn tùy thuộc vào mục đích vay vốn, giá trị mỗi khoản vay, thu nhập hàng tháng của khách hàng và thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng trong hợp đồng tín dụng. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn.
Còn đối vói những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình như mua nhà, mua xe,.thời hạn vay thường là trung và dài hạn. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân a. Đối với ngân hàng thương mại Bên cạnh hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay khách hàng cá nhân với số lượng khách hàng phong phú, đa dạng, đang là hoạt động chủ yếu và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động cho vay khách hàng cá 8 Luan van nhân, các ngân hàng thương mại có thể mở rộng các hoạt động dịch vụ khác với khách hàng như huy động gửi tiền, dịch vụ thanh toán, thẻ tín dụng, chuyển tiền,.
và qua đó tăng quy mô khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng. Đây là kênh marketing hiệu quả đối với ngân hàng thương mại, giúp đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, tạo mối quan hệ với khách hàng, nhờ đó nâng cao lợi nhuận và phân tán rủi ro đồng thời tăng khả năng cạnh tranh giành thị phần trên thị trường tài chính. Đối với khách hàng Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của khách hàng đối với các hoạt động tiêu dùng và kinh doanh.Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay thì nhu cầu tiêu dùng, mua sắm và kinh doanh của các khách hàng cá nhân là vô cùng lớn, vì vậy hoạt động cho vay cá nhân có thể giúp các khách hàng thỏa mãn kịp thời nhu cầu của mình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân giúp khách hàng tiếp cận được nguồn vốn giá hợp lý và an toàn.
Nhìn chung, lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại hợp lý và cạnh tranh hơn nhiều so với lãi suất vay “nóng” bên ngoài thị trường. Thời hạn cho vay và phương thức trả nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng trong khi điều kiện và thủ tục để có được khoản vay không quá phức tạp. Đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân góp phần làm gia tăng tốc độ và hiệu quả chu chuyển vốn trong nền kinh tế, luân chuyển lưu thông hàng hóa, kích cầu, nhờ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, cải thiện đời sống dân cư. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô thì hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm thời gian tiền bạc cho xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại luôn được coi là một trong những biện pháp cơ 9 Luan van bản để điều hòa dòng vốn trong xã hội và đáp ứng các yêu cầu trong sử dụng vốn của nền kinh tế. Thực tế cho thấy hoạt động cho vay khách hàng cá nhân thực sự là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tiêu dùng và sản xuất, giữa trong nước và quốc tế,… 1. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1. Căn cứ vào thời hạn cho vay Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân được phân thành 3 loại, bao gồm: Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay dưới 1 năm, chủ yếu vốn vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cần thiết cho cá nhân và hộ gia đình.