Tần Suất Ngưng Thở Khi Ngủ Do Tắc Nghẽn Ở Bệnh Nhân Tăng Huyết Áp Và Hiệu Quả Điều Trị Bằng CPAP

Tần suất ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân tăng huyết áp và hiệu quả điều trị bằng CPAP lên huyết áp được phân tích chi tiết.

Chuyên ngành

Nội Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2019

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN

1.1. Mối liên quan giữa ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn và tăng huyết áp

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu của nghiên cứu

2.5. Xác định các biến số độc lập và phụ thuộc

2.6. Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.7. Quy trình thực hiện nghiên cứu

2.8. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Tần suất ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm buồn ngủ ban ngày quá mức

3.2. Mối liên quan giữa ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn với các đặc điểm dân số học, nhân trắc học và lâm sàng ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm buồn ngủ ban ngày quá mức

3.3. Hiệu quả điều trị bằng thông khí áp lực dương liên tục (CPAP) lên huyết áp sau 12 tháng ở bệnh nhân tăng huyết áp và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tần suất ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm buồn ngủ ban ngày quá mức

4.2. Mối liên quan giữa ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn với các đặc điểm dân số học, nhân trắc học và lâm sàng ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm buồn ngủ ban ngày quá mức

4.3. Hiệu quả điều trị bằng thông khí áp lực dương liên tục (CPAP) lên huyết áp sau 12 tháng ở bệnh nhân tăng huyết áp và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn

ĐIỂM MẠNH VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bệnh án nghiên cứu Bệnh án tái khám

Phụ lục 2. Thông tin về nghiên cứu và Giấy chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 3. Hình ảnh kết quả đa ký giấc ngủ, hiệu quả CPAP lên AHI và kết quả theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ ở nhóm CPAP

Phụ lục 4. Danh sách bệnh nhân nghiên cứu Chấp thuận (cho phép) của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ngưng Thở Khi Ngủ Định Nghĩa Dịch Tễ

Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (NTKNDTN) là một rối loạn đặc trưng bởi các đợt ngưng thở hoặc giảm thở kéo dài từ 10 giây trở lên, lặp đi lặp lại trong khi ngủ, mặc dù các cơ hô hấp vẫn hoạt động. Thuật ngữ "Hội chứng NTKNDTN" dùng để chỉ sự kết hợp của NTKNDTN và triệu chứng buồn ngủ quá mức vào ban ngày. Ước tính khoảng 26% người lớn có nguy cơ cao bị NTKNDTN. Các nghiên cứu dịch tễ tại Hoa Kỳ vào những năm 1990 cho thấy tần suất NTKNDTN (AHI ≥ 5) là 24% ở nam và 9% ở nữ. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bích Huyên trên bệnh nhân đến khám vì ngáy và ngộp thở cho thấy tỷ lệ NTKNDTN là 87,1%.

1.1. Dịch Tễ Học Ngưng Thở Khi Ngủ Toàn Cầu và Tại Việt Nam

NTKNDTN là một tình trạng rối loạn nhịp thở khi ngủ thường gặp nhất. Ước tính khoảng 26% người lớn có nguy cơ cao bị NTKNDTN. Các nghiên cứu dịch tễ tại Hoa Kỳ vào những năm 1990 trên dân số da trắng từ 30 đến 60 tuổi cho thấy tần suất NTKNDTN (dựa trên chỉ số AHI ≥ 5) là 24% ở nam và 9% ở nữ. Tại Việt Nam, chưa có các nghiên cứu trên dân số chung. Theo Nguyễn Xuân Bích Huyên nghiên cứu trên 263 bệnh nhân Việt Nam đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy vì ngáy và ngộp thở trong đêm thì tỷ lệ NTKNDTN là 87,1%.

1.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Chính Gây Ngưng Thở Khi Ngủ

Có nhiều yếu tố nguy cơ của NTKNDTN. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm béo phì, bất thường sọ mặt, hút thuốc lá, tuổi cao, uống rượu và giới tính nam. Béo phì là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất, do tích tụ mỡ quanh đường hô hấp trên. Bất thường sọ mặt và hàm cũng làm hẹp lòng đường hô hấp trên. Yếu tố nguy cơ càng nhiều, khả năng bị NTKNDTN càng cao.

II. Cơ Chế Bệnh Sinh Ngưng Thở Khi Ngủ Yếu Tố Giải Phẫu

NTKNDTN xảy ra do tăng sức cản đường hô hấp trên tại một hoặc nhiều vị trí. Vị trí hẹp có thể là ở mũi, vùng hầu hoặc ít gặp hơn là vùng đáy lưỡi. Các yếu tố chính góp phần vào bệnh sinh của NTKNDTN bao gồm vai trò của đường dẫn khí trên, các yếu tố thuộc về xương và mô mềm. Cấu trúc đường dẫn khí trên của người khá phức tạp và dễ bị xẹp trong khi ngủ. Bất thường của các yếu tố thuộc về xương, đặc biệt là xương hàm dưới, cũng góp phần làm đường hô hấp hẹp hơn. Mô mềm của vùng hầu họng (amiđan, thành bên của hầu, lưỡi gà, khẩu cái mềm và lưỡi) cũng góp phần làm hẹp đường hô hấp trên.

2.1. Vai Trò Đường Dẫn Khí Trên Trong Ngưng Thở Khi Ngủ

Cấu trúc đường dẫn khí trên của người khá phức tạp để có thể đảm nhận nhiều chức năng quan trọng gồm nuốt, nói và thở. Đường dẫn khí trên ở người thường không có các cấu trúc xương hoặc sụn nâng đỡ, nhất là vùng hầu nên dễ bị xẹp và tắc nghẽn trong khi ngủ. Ngoài ra, do không phải là một cấu trúc cứng nên đường kính đường hô hấp vùng hầu còn tùy thuộc vào sự cân bằng giữa các lực làm giãn và xẹp đường hô hấp trên.

2.2. Ảnh Hưởng Của Yếu Tố Xương Đến Ngưng Thở Khi Ngủ

Bất thường của các yếu tố thuộc về xương góp phần quan trọng trong bệnh sinh NTKNDTN do làm đường hô hấp hẹp nhiều hơn. Thường gặp nhất là bất thường xương hàm dưới. Vị trí tương đối của xương hàm dưới so với xương hàm trên quyết định mức độ nhô ra sau của lưỡi. Do cơ cằm lưỡi bám vào xương hàm dưới nên khi có bất thường xương hàm dưới như hàm đưa ra sau hoặc hàm nhỏ làm tăng nguy cơ tắc nghẽn vùng hạ hầu.

2.3. Tác Động Của Mô Mềm Đến Ngưng Thở Khi Ngủ

Mô mềm của vùng hầu họng (amiđan, thành bên của hầu, lưỡi gà, khẩu cái mềm và lưỡi) cũng góp phần làm hẹp đường hô hấp trên. Phì đại lưỡi và khẩu cái mềm làm hẹp đường hô hấp ở mặt phẳng trước-sau, trong khi dày thành bên vùng hầu làm hẹp đường hô hấp ở mặt phẳng ngang. Hình ảnh trên chụp cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ cho thấy dày thành bên vùng hầu là vị trí chính của hẹp đường hô hấp.

III. Triệu Chứng Ngưng Thở Khi Ngủ Ban Đêm Ban Ngày

Triệu chứng thường gặp của NTKNDTN là ngáy, thở hổn hển và ngưng thở về đêm. Các triệu chứng ban đêm đặc hiệu cho NTKNDTN hơn là triệu chứng ban ngày, bởi vì buồn ngủ ban ngày quá mức là hậu quả của rối loạn giấc ngủ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bệnh nhân NTKNDTN có thể than phiền mệt, muốn ngủ, ngủ gà, ngủ gật hơn là buồn ngủ ban ngày. Khoảng một nửa người bệnh NTKNDTN cảm nhận họ không nằm yên trong lúc ngủ và vã mồ hôi, thường ở cổ và vùng ngực trên.

3.1. Các Triệu Chứng Ban Đêm Của Ngưng Thở Khi Ngủ

Triệu chứng thường gặp của NTKNDTN là ngáy, thở hổn hển và ngưng thở về đêm. Các triệu chứng ban đêm đặc hiệu cho NTKNDTN hơn là triệu chứng ban ngày, bởi vì buồn ngủ ban ngày quá mức là hậu quả của rối loạn giấc ngủ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bạn ngủ chung giường luôn than phiền về cử động quá mức của người bệnh trong lúc ngủ và đôi khi làm tổn thương người ngủ chung. Ngoài ra, người bệnh có thể có tiểu đêm nhiều lần, có các triệu chứng của trào ngược dạ dày-thực quản, khô miệng, chảy nước dãi và nghiến răng về đêm.

3.2. Các Triệu Chứng Ban Ngày Của Ngưng Thở Khi Ngủ

Bệnh nhân NTKNDTN có thể than phiền mệt, muốn ngủ, ngủ gà, ngủ gật hơn là buồn ngủ ban ngày. Khoảng một nửa người bệnh NTKNDTN cảm nhận họ không nằm yên trong lúc ngủ và vã mồ hôi, thường ở cổ và vùng ngực trên. Các triệu chứng này thường là do người bệnh gắng sức thở trong những đợt tắc nghẽn đường hô hấp trên.

IV. Chẩn Đoán Ngưng Thở Khi Ngủ Đa Ký Giấc Ngủ AHI

Đa ký giấc ngủ (polysomnography) là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán NTKNDTN. Đa ký giấc ngủ giúp xác định chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI), là số lượng ngưng thở và giảm thở xảy ra trong một giờ ngủ. AHI ≥ 5 được coi là có NTKNDTN. Ngoài ra, đa ký giấc ngủ còn giúp đánh giá độ bão hòa oxy trong máu, các giai đoạn giấc ngủ và các rối loạn giấc ngủ khác. Các phương pháp chẩn đoán khác bao gồm đo oxy máu ban đêm và các bảng câu hỏi sàng lọc.

4.1. Vai Trò Của Đa Ký Giấc Ngủ Trong Chẩn Đoán Ngưng Thở Khi Ngủ

Đa ký giấc ngủ (polysomnography) là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán NTKNDTN. Đa ký giấc ngủ giúp xác định chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI), là số lượng ngưng thở và giảm thở xảy ra trong một giờ ngủ. AHI ≥ 5 được coi là có NTKNDTN. Ngoài ra, đa ký giấc ngủ còn giúp đánh giá độ bão hòa oxy trong máu, các giai đoạn giấc ngủ và các rối loạn giấc ngủ khác.

4.2. Chỉ Số AHI Apnea Hypopnea Index Trong Chẩn Đoán Ngưng Thở Khi Ngủ

AHI là số lượng ngưng thở và giảm thở xảy ra trong một giờ ngủ. AHI ≥ 5 được coi là có NTKNDTN. Mức độ nặng của NTKNDTN được phân loại dựa trên chỉ số AHI: nhẹ (5-15), trung bình (15-30) và nặng (>30).

V. Điều Trị Ngưng Thở Khi Ngủ CPAP Thay Đổi Lối Sống

Điều trị NTKNDTN bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc. Biện pháp không dùng thuốc bao gồm thay đổi lối sống (giảm cân, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, thay đổi tư thế ngủ), sử dụng dụng cụ hỗ trợ (máng nhai, gối chống ngáy) và phẫu thuật. Biện pháp dùng thuốc chính là sử dụng máy CPAP (Continuous Positive Airway Pressure), giúp duy trì áp lực dương liên tục trong đường thở, ngăn ngừa xẹp đường thở trong khi ngủ. CPAP là phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho NTKNDTN.

5.1. Điều Trị Ngưng Thở Khi Ngủ Bằng CPAP Cơ Chế và Hiệu Quả

CPAP (Continuous Positive Airway Pressure) là phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho NTKNDTN. Máy CPAP tạo ra áp lực dương liên tục trong đường thở, giúp ngăn ngừa xẹp đường thở trong khi ngủ. CPAP giúp cải thiện chỉ số AHI, giảm buồn ngủ ban ngày, cải thiện chất lượng giấc ngủ và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

5.2. Các Biện Pháp Thay Đổi Lối Sống Hỗ Trợ Điều Trị Ngưng Thở Khi Ngủ

Các biện pháp thay đổi lối sống có thể giúp cải thiện tình trạng NTKNDTN. Giảm cân giúp giảm áp lực lên đường thở. Bỏ thuốc lá và hạn chế rượu bia giúp giảm viêm và phù nề đường thở. Thay đổi tư thế ngủ (nằm nghiêng) giúp giảm nguy cơ xẹp đường thở.

VI. Ngưng Thở Khi Ngủ và Tăng Huyết Áp Mối Liên Hệ

NTKNDTN và tăng huyết áp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. NTKNDTN có thể gây ra hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp. Cơ chế gây tăng huyết áp trong NTKNDTN bao gồm tăng hoạt hệ thần kinh giao cảm, tăng phản ứng viêm toàn thân, mất cân bằng oxy hóa và tăng áp lực xuyên thành mạch. Điều trị NTKNDTN bằng CPAP có thể giúp giảm huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp và NTKNDTN.

6.1. Cơ Chế Liên Quan Giữa Ngưng Thở Khi Ngủ và Tăng Huyết Áp

NTKNDTN có thể gây ra hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp. Cơ chế gây tăng huyết áp trong NTKNDTN bao gồm tăng hoạt hệ thần kinh giao cảm, tăng phản ứng viêm toàn thân, mất cân bằng oxy hóa và tăng áp lực xuyên thành mạch.

6.2. Hiệu Quả Của CPAP Lên Huyết Áp Ở Bệnh Nhân Ngưng Thở Khi Ngủ và Tăng Huyết Áp

Điều trị NTKNDTN bằng CPAP có thể giúp giảm huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp và NTKNDTN. CPAP giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ, giảm hoạt hệ thần kinh giao cảm và giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch.

07/06/2025
Tần suất của ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân tăng huyết áp và hiệu quả của điều trị bằng cpap lên huyết áp 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ NGƯNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN (NTKNDTN) Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (NTKNDTN) là một rối loạn được đặc trưng bởi những đợt ngưng hoặc giảm thở kéo dài từ 10 giây trở lên, lặp đi lặp lại trong lúc ngủ mặc dù các cơ hô hấp đã gắng sức [29] [108]. Ngưng thở và giảm thở có thể cùng xảy ra trong khi ngủ nhưng thuật ngữ “ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn” được sử dụng chung thay cho thuật ngữ cũ trước đây là “ngưng-giảm thở khi ngủ do tắc nghẽn” [108]. “Hội chứng NTKNDTN” là thuật ngữ dùng để chỉ sự kết hợp của NTKNDTN và triệu chứng buồn ngủ quá mức vào ban ngày [29] [108].

Dịch tễ học NTKNDTN là một tình trạng rối loạn nhịp thở khi ngủ thường gặp nhất. Ước tính khoảng 26% người lớn có nguy cơ cao bị NTKNDTN [29]. Các nghiên cứu dịch tễ tại Hoa Kỳ vào những năm 1990 trên dân số da trắng từ 30 đến 60 tuổi cho thấy tần suất NTKNDTN (dựa trên chỉ số AHI ≥ 5) là 24% ở nam và 9% ở nữ [29]. Nếu dùng tiêu chuẩn chẩn đoán là chỉ số AHI ≥ 5 kèm chứng buồn ngủ vào ban ngày (còn gọi là hội chứng NTKNDTN) thì tỷ lệ bệnh ở nam và nữ lần lượt là 4% và 2% [29] [108].

Tại Việt Nam, chưa có các nghiên cứu trên dân số chung. Theo Nguyễn Xuân Bích Huyên nghiên cứu trên 263 bệnh nhân Việt Nam đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy vì ngáy và ngộp thở trong đêm thì tỷ lệ NTKNDTN là 87,1% [5]. Các yếu tố nguy cơ [29] Có nhiều yếu tố nguy cơ của NTKNDTN. Các yếu tố nguy cơ chính được trình bày trong bảng 1.1 với béo phì và bất thường sọ mặt là thường gặp nhất.

Yếu tố nguy cơ càng nhiều, khả năng bị NTKNDTN càng cao. Các yếu tố nguy cơ chính của NTKNDTN “Nguồn: Camey PR, 2005” [29] Yếu tố nguy cơ Cơ chế có thể Béo phì Tích tụ mỡ quanh đường hô hấp trên Bất thường sọ mặt và Hàm trên bất thường hay kích thước xương hàm mô mềm đường hô hấp dưới ngắn, phì đại amiđan… làm hẹp lòng đường trên hô hấp Thuốc lá Gây viêm và phù nề đường hô hấp Tuổi cao Giảm hoạt tính cơ làm giãn đường hô hấp Rượu Giảm hoạt tính cơ làm giãn đường hô hấp Nam giới Testosterone làm giảm hoạt tính cơ làm giãn đường hô hấp 1. Sinh lý bệnh [29] NTKNDTN xảy ra là do tăng sức cản đường hô hấp trên tại một hoặc nhiều vị trí của đường hô hấp. Vị trí hẹp có thể là ở mũi, vùng hầu hoặc ít gặp hơn là vùng đáy lưỡi.

Các yếu tố chính góp phần vào bệnh sinh của NTKNDTN được đề cập chi tiết ở bên dưới. Vai trò của đường dẫn khí trên trong bệnh sinh của NTKNDTN [29] Cấu trúc đường dẫn khí trên của người khá phức tạp để có thể đảm nhận nhiều chức năng quan trọng gồm nuốt, nói và thở. Đường dẫn khí trên ở người thường không có các cấu trúc xương hoặc sụn nâng đỡ, nhất là vùng hầu nên dễ bị xẹp và tắc nghẽn trong khi ngủ. 6 Ngoài ra, do không phải là một cấu trúc cứng nên đường kính đường hô hấp vùng hầu còn tùy thuộc vào sự cân bằng giữa các lực làm giãn và xẹp đường hô hấp trên.

Lực làm giãn đường hô hấp vùng hầu chủ yếu là do sự co của các cơ vùng hầu (cơ cằm lưỡi, cơ căng màn hầu…), giúp đường hô hấp mở rộng. Lực làm xẹp đường hô hấp trên chủ yếu là do cơ hoành và hoạt động của các cơ làm giãn nỡ lồng ngực thì hít vào. Mất cân bằng giữa các lực này sẽ gây hẹp đường hô hấp trên. Khi ngủ, lực làm giãn đường hô hấp trên của các cơ vùng hầu yếu hơn cơ hoành.

Các cơ cằm-lưỡi và cằm-móng bị ảnh hưởng nhiều nhất, có hoạt tính bất thường ở người NTKNDTN, với tăng co vào ban ngày và giảm co khi ngủ. Sự thay đổi sinh lý này gây ra bất thường sức cản đường thở trên thì hít vào trong khi ngủ, làm hẹp đường hô hấp một phần hoặc hoàn toàn. Nếu kèm theo các bất thường khác về giải phẫu, sinh lý hoặc thần kinh của đường dẫn khí trên sẽ làm giảm thêm kích thước đường dẫn khí trên, gây xẹp đường hô hấp trong lúc ngủ. Vai trò của các yếu tố thuộc về xương trong bệnh sinh của NTKNDTN [29] Bất thường của các yếu tố thuộc về xương góp phần quan trọng trong bệnh sinh NTKNDTN do làm đường hô hấp hẹp nhiều hơn.

Thường gặp nhất là bất thường xương hàm dưới. Vị trí tương đối của xương hàm dưới so với xương hàm trên quyết định mức độ nhô ra sau của lưỡi. Do cơ cằm lưỡi bám vào xương hàm dưới nên khi có bất thường xương hàm dưới như hàm đưa ra sau hoặc hàm nhỏ làm tăng nguy cơ tắc nghẽn vùng hạ hầu. Vị trí của xương móng cũng là một yếu tố nguy cơ của NTKNDTN nếu nằm thấp xuống phía dưới.

Xương móng được xem là mỏ neo trung tâm của các cơ lưỡi và quyết định phần nào vị trí của lưỡi. Xương móng ở người NTKNDTN bị kéo thấp xuống phía dưới so với người bình thường. Điều này thường kèm theo sự di chuyển xuống dưới của lưỡi vào vùng hạ hầu, gây xẹp đường hô hấp. Vai trò của các yếu tố thuộc về mô mềm trong bệnh sinh của NTKNDTN [29] Mô mềm của vùng hầu họng (amiđan, thành bên của hầu, lưỡi gà, khẩu cái mềm và lưỡi) cũng góp phần làm hẹp đường hô hấp trên.

Phì đại lưỡi và khẩu cái mềm làm hẹp đường hô hấp ở mặt phẳng trước-sau, trong khi dày thành bên vùng hầu làm hẹp đường hô hấp ở mặt phẳng ngang. Hình ảnh trên chụp cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ cho thấy dày thành bên vùng hầu là vị trí chính của hẹp đường hô hấp. Thông khí áp lực dương liên tục, giảm cân hoặc chỉnh hình hàm dưới giúp làm tăng kích thước vùng hầu bên. Triệu chứng cơ năng [29] [108] 1.

Các triệu chứng ban đêm Triệu chứng thường gặp của NTKNDTN là ngáy, thở hổn hển và ngưng thở về đêm. Các triệu chứng ban đêm đặc hiệu cho NTKNDTN hơn là triệu chứng ban ngày, bởi vì buồn ngủ ban ngày quá mức là hậu quả của rối loạn giấc ngủ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bệnh nhân NTKNDTN có thể than phiền mệt, muốn ngủ, ngủ gà, ngủ gật hơn là buồn ngủ ban ngày. Khoảng một nửa người bệnh NTKNDTN cảm nhận họ không nằm yên trong lúc ngủ và vã mồ hôi, thường ở cổ và vùng ngực trên.

Các triệu chứng này thường là do người bệnh gắng sức thở trong những đợt tắc nghẽn đường hô hấp trên. Bạn ngủ chung giường luôn than phiền về cử động quá mức của người bệnh trong lúc ngủ và đôi khi làm tổn thương người ngủ chung. Ngoài ra, người bệnh có thể có tiểu đêm nhiều lần, có các triệu chứng của trào ngược dạ dày-thực quản, khô miệng, chảy nước dãi và nghiến răng về đêm. Các triệu chứng ban ngày Buồn ngủ hoặc mệt mỏi ban ngày là than phiền thường gặp nhất.

Người bệnh có thể than phiền bị nhức đầu buổi sáng hoặc ban đêm. Một bảng câu hỏi đơn giản - thang đo Epworth, là một công cụ tầm soát nhanh để phát hiện. 8 triệu chứng buồn ngủ ban ngày của người bệnh. Trong lúc phỏng vấn bảng câu hỏi này, sự tham gia của người ngủ chung với người bệnh hoặc thành viên trong gia đình là cần thiết.

Thang đo này gồm tám tình huống (bảng 1. Mỗi tình huống được cho điểm từ 0 đến 3, với 0 điểm là không buồn ngủ,1 điểm là ngủ gà mức độ nhẹ, 2 điểm là ngủ gà mức độ trung bình và 3 điểm là ngủ gà mức độ nặng. Khi Epworth > 10 điểm, gợi ý người bệnh có buồn ngủ ban ngày nhiều. Ngưỡng này có được từ một nghiên cứu quan sát trên 180 người lớn.

Thang đo Epworth có điểm tổng cộng từ 0 đến 24 điểm, với số điểm càng cao thì mức độ ngủ gà càng nhiều. Thang đo Epworth để phát hiện triệu chứng buồn ngủ ban ngày quá mức “Nguồn: Meir HK, 2017” [108] TÌNH HUỐNG 0 1 2 3 Ngồi đọc sách Ngồi xem truyền hình Ngồi yên ở một nơi công cộng (xem phim, kịch, phòng họp) Làm khách trong một chiếc xe hơi (hoặc xe bus, xe đò, xe tốc hành) chạy liên tục trong vòng hơn 1 giờ Nằm nghỉ buổi trưa khi hoàn cảnh cho phép Ngồi nói chuyện với người khác Ngồi yên sau bữa ăn trưa (không uống rượu bia) Ngồi lái xe khi xe hơi ngừng trong vài phút trên đường (đèn đỏ, kẹt xe) Tổng điểm: .điểm Tất cả các triệu chứng trên hiếm khi xảy ra trên cùng một người bệnh và độ đặc hiệu còn kém. Các triệu chứng này cũng trùng lấp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm hoặc suy giáp. 9 Các triệu chứng gợi ý cho NTKNDTN được thể hiện trong bảng 1.

Các triệu chứng gợi ý cho NTKNDTN “Nguồn: Camey PR, 2005” [29] - Buồn ngủ vào ban ngày - Béo phì - Không cảm thấy sảng khoái sau khi ngủ dậy - Chu vi vòng cổ to - Ngưng thở (được người ngủ chung nhận thấy) - Tăng huyết áp - Thức giấc vì ngộp thở - Tăng khí carbonic trong máu - Thao thức suốt đêm - Bệnh lý tim mạch - Buồn ngủ vì thức giấc thường xuyên suốt - Bệnh lý mạch máu não đêm - Rối loạn nhịp tim - Giảm tập trung - Hẹp đường hô hấp trên - Nhận thức kém - Tăng áp phổi - Thay đổi tính tình - Đa hồng cầu - Nhức đầu vào buổi sáng - Trào ngược dạ dày-thực quản - Giấc mơ lạ kỳ, gây lo sợ 1. Triệu chứng thực thể [108] Thăm khám thực thể cẩn thận là cần thiết để đánh giá người bệnh NTKNDTN. Nên tầm soát các bệnh kèm theo khác như THA và suy tim. - Béo phì và tăng chu vi vòng cổ: Nên đo chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể và chu vi vòng cổ của người bệnh.

Chu vi vòng cổ trên 43 cm ở nam và trên 41 cm ở nữ được xem là có nguy cơ cao bị NTKNDTN [108]. - Khám đường hô hấp trên: Mục đích khám đường hô hấp trên là nhận dạng các cấu trúc hoặc bất thường làm hẹp đường hô hấp trên và tăng sức cản đường thở trong lúc ngủ. Một vài dấu hiệu gợi ý cho NTKNDTN là hàm dưới đưa ra sau, vẹo vách ngăn, cánh mũi xẹp (hình 1.1)… Nên khám ở cả hai tư thế ngồi và nằm ngửa vì nằm ngửa phản ánh tốt hơn giải phẫu đường hô hấp trong lúc ngủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Tần Suất Ngưng Thở Khi Ngủ Do Tắc Nghẽn Ở Bệnh Nhân Tăng Huyết Áp Và Hiệu Quả Điều Trị Bằng CPAP cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa tình trạng ngưng thở khi ngủ và bệnh tăng huyết áp. Nghiên cứu chỉ ra rằng tần suất ngưng thở có thể gia tăng ở những bệnh nhân mắc bệnh này, đồng thời đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị bằng CPAP (Continuous Positive Airway Pressure). Những thông tin này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của mình mà còn mở ra hướng điều trị hiệu quả, từ đó cải thiện chất lượng giấc ngủ và sức khỏe tổng thể.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lầm sàng và đánh giá kết quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ ở trẻ hen phế quản, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về hội chứng ngưng thở khi ngủ ở trẻ em, một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu về giấc ngủ và sức khỏe. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến ngưng thở khi ngủ và các phương pháp điều trị hiện có.