Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, bệnh lý sỏi đường tiết niệu chiếm từ 45% đến 50% tổng số các bệnh lý tiết niệu với tần suất hiện mắc trong cộng đồng ước tính từ 0,5‰ đến 2‰ dân số. Trong đó, sỏi thận là dạng tổn thương phổ biến nhất, chiếm từ 70% đến 75% các trường hợp sỏi hệ tiết niệu. Khi không được can thiệp kịp thời, sỏi đài bể thận sẽ dẫn tới biến chứng nhiễm khuẩn niệu, giãn ứ nước đài bể thận và suy giảm chức năng thận mạn tính. Trước đây, điều trị sỏi thận chủ yếu dựa vào phẫu thuật mổ mở truyền thống với đường mổ lớn, mất nhiều máu và thời gian nằm viện kéo dài từ 10 đến 14 ngày. Sự phát triển của kỹ thuật tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm đã mang lại giải pháp ngoại khoa ít xâm lấn, giảm thiểu tổn thương nhu mô và rút ngắn thời gian hồi phục.

Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú của Bác sĩ Hoàng Văn Thiệp, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đức Quý tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, tập trung vào hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, đánh giá kết quả điều trị của phương pháp tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong tư thế nằm nghiêng; Thứ hai, phân tích các yếu tố liên quan trực tiếp đến kết quả làm sạch sỏi và các tai biến ngoại khoa. Nghiên cứu được triển khai trên 139 bệnh nhân tại Khoa Ngoại Tiết niệu - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi sớm đạt trên 82%, kiểm soát biến chứng nặng ở mức 0% và rút ngắn thời gian hậu phẫu trung bình xuống dưới 5 ngày, cung cấp bằng chứng tin cậy cho việc ứng dụng kỹ thuật cao tại tuyến y tế khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Phẫu thuật can thiệp lấy sỏi thận qua da dựa trên nền tảng giải phẫu ứng dụng diện vô mạch Brodel và cấu trúc các nhánh mạch thận. Diện vô mạch Brodel nằm ở vị trí tiếp giáp giữa 2/3 trước và 1/3 sau của nhu mô thận, nơi các nhánh tận cùng của ngành động mạch thận trước và sau gặp nhau. Việc chọc dò và nong đường hầm đi xuyên qua nhú thận theo diện Brodel cho phép tiếp cận hệ thống đài bể thận mà không làm tổn thương các động mạch phân thùy hay động mạch gian thùy lớn. Bên cạnh lý thuyết giải phẫu ngoại khoa, nghiên cứu tích hợp ba mô hình đánh giá chuẩn mực quốc tế:

Thứ nhất, Thang điểm sỏi Guy gồm 4 độ phức tạp, phân loại từ độ 1 (sỏi đơn độc đài giữa hoặc đài dưới với giải phẫu thận bình thường) đến độ 4 (sỏi san hô toàn bộ hoặc sỏi trên người bệnh có dị dạng cột sống), giúp định lượng mức độ khó và dự báo tỷ lệ sạch sỏi.

Thứ hai, Hệ thống phân độ giãn đài bể thận của Hiệp hội Tiết niệu Thai nhi gồm 5 mức độ từ độ 0 (không giãn) đến độ 4 (giãn rộng mất ranh giới đài bể thận, teo mỏng nhu mô), làm cơ sở xác định độ thuận lợi khi định vị chọc kim dưới siêu âm.

Thứ ba, Thang phân loại Clavien - Dindo gồm 5 mức độ biến chứng hậu phẫu nhằm chuẩn hóa mức độ an toàn của can thiệp ngoại khoa, từ biến chứng nhẹ không cần dùng thuốc (độ I) đến can thiệp chuyên sâu (độ III) và đe dọa tính mạng (độ IV).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hai giai đoạn: hồi cứu 106 hồ sơ bệnh án từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2021 và tiến cứu 33 bệnh nhân từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2022, tạo lập cỡ mẫu chung gồm 139 bệnh nhân. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng, thu nhận tất cả người bệnh từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán sỏi thận hoặc sỏi thận kèm sỏi niệu quản cùng bên có chỉ định tán sỏi đường hầm nhỏ bằng laser Holmium, cấy nước tiểu trước mổ âm tính. Các trường hợp bất thường bẩm sinh phức tạp như thận móng ngựa, thận xoay bất toàn, rối loạn đông máu nặng chưa kiểm soát đều bị loại trừ. Lý do lựa chọn thiết kế hỗn hợp hồi cứu và tiến cứu nhằm tối ưu hóa số lượng mẫu quan sát trong 30 tháng, vừa bảo đảm tính bao quát thống kê vừa kiểm soát chặt chẽ quy trình theo dõi lâm sàng.

Quy trình kỹ thuật được thực hiện chuẩn hóa: bệnh nhân được đặt ống thông niệu quản ngược dòng ở tư thế sản khoa để bơm nước tạo độ tương phản, sau đó chuyển sang tư thế nằm nghiêng có độn vùng thắt lưng. Dưới hướng dẫn của máy siêu âm xách tay Aloka đầu dò convex 3-5 MHz, phẫu thuật viên chọc kim 18G qua đài thận thích hợp, luồn dây dẫn đường, nong đường hầm bằng bộ nong nhựa từ 8 Fr đến 18 Fr, đặt ống Amplatz 18 Fr, đưa máy soi thận bán cứng 14 Fr tiếp cận sỏi và phát năng lượng laser Holmium 80W để tán vụn sỏi kết hợp bơm rửa áp lực tống sỏi ra ngoài. Sau can thiệp, bệnh nhân được đặt sonde JJ xuôi dòng và dẫn lưu thận Foley 14 Fr. Toàn bộ số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0, áp dụng các kiểm định Chi-bình phương, kiểm định Fisher và tỷ số tỷ lệ hiện mắc với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên phê chuẩn theo Quyết định số 361/HĐĐĐ-BVTWTN.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 139 bệnh nhân mang lại các phát hiện thực chứng nổi bật:

Thứ nhất, về đặc điểm nhân khẩu học và thể trạng: Tỷ lệ nam giới chiếm 61,2% (85 bệnh nhân), cao vượt trội so với nữ giới chiếm 38,8% (54 bệnh nhân). Độ tuổi lao động từ 40 đến 59 tuổi chiếm đa số với 56,8% (79 bệnh nhân), nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm 29,5% (41 bệnh nhân) và dưới 39 tuổi chiếm 13,7% (19 bệnh nhân). Phân loại thể trạng ghi nhận 64,0% bệnh nhân có chỉ số BMI bình thường (18,5 đến 22,9 kg/m²), tỷ lệ thừa cân chiếm 31,0% (43 bệnh nhân) và thiếu cân chiếm 5,0% (7 bệnh nhân).

Thứ hai, về lâm sàng và cận lâm sàng trước phẫu thuật: Triệu chứng đau tức âm ỉ vùng thắt lưng xuất hiện ở 100% bệnh nhân, đái buốt chiếm 41,0% (57 bệnh nhân), buồn nôn chiếm 20,1% (28 bệnh nhân) và sốt trước mổ chiếm 6,5% (9 bệnh nhân). Đánh giá mức lọc cầu thận trước can thiệp cho thấy chỉ có 15,8% bệnh nhân có chức năng lọc bình thường hoặc tăng, trong khi có tới 41,7% giảm nhẹ và 37,4% giảm mức độ trung bình. Tỷ lệ thiếu máu nhẹ trước phẫu thuật chiếm 18,0% (25 bệnh nhân) và thiếu máu vừa chiếm 0,7% (1 bệnh nhân).

Thứ ba, về hiệu quả làm sạch sỏi: Tỷ lệ sạch sỏi sớm sau phẫu thuật đạt 82,7%, sau đó tăng lên 89,2% sau một tháng tái khám nhờ kết hợp các biện pháp bổ trợ như tán sỏi thì hai hoặc điều trị nội khoa tống sỏi. Thời gian phẫu thuật trung bình đạt 68,5 phút.

Thứ tư, về độ an toàn và biến chứng ngoại khoa: Tỷ lệ tai biến chung ghi nhận ở mức 10,8%, trong đó sốt sau mổ chiếm 6,5% (9 bệnh nhân) và đái máu thoáng qua kiểm soát ổn định bằng kẹp ống thông chiếm 4,3% (6 bệnh nhân). Toàn bộ các biến cố này đều thuộc độ I và độ II theo thang Clavien - Dindo, không có trường hợp nào phải truyền máu, can thiệp nút mạch hay chuyển mổ mở.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ sạch sỏi sớm đạt 82,7% và sau một tháng đạt 89,2% trong nghiên cứu này hoàn toàn tương thích với các dữ liệu công bố quốc tế và trong nước. Điển hình, phân tích gộp của tác giả Qin P trên 1.396 bệnh nhân sỏi thận kích thước trên 2 cm ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi của kỹ thuật tán sỏi qua da đường hầm nhỏ là 85,17%. Tương tự, tác giả Jiao B công bố tỷ lệ sạch sỏi sớm đạt 83,3% và sau một tháng đạt 89,6%. Tại Việt Nam, kết quả của nghiên cứu tương đương với tác giả Nguyễn Minh An (83,7%) và cao hơn kết quả của tác giả Đào Đức Phin (73,1%). Nguyên nhân đạt tỷ lệ thành công cao là nhờ sử dụng năng lượng laser Holmium 80W công suất mạnh làm vụn sỏi nhanh chóng, kết hợp áp lực dòng nước bơm rửa liên tục qua ống nong 18 Fr giúp đưa các mảnh sỏi nhỏ ra ngoài hiệu quả.

Về độ an toàn, tỷ lệ sốt sau phẫu thuật 6,5% trong nghiên cứu thấp hơn đáng kể so với mức 10,8% trong nghiên cứu của tác giả Qin P và mức 12,3% của tác giả Đào Đức Phin. Điều này đạt được nhờ việc tuân thủ quy chuẩn sàng lọc cấy nước tiểu âm tính và dùng kháng sinh dự phòng trước mổ từ 1 đến 2 ngày. Các mối tương quan giữa đặc điểm sỏi trên phim cắt lớp vi tính và kết quả điều trị có thể được mô tả rõ nét qua bảng phân tích chéo và biểu đồ thanh phân tầng. Kết quả chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân có kích thước sỏi trên 30 mm và điểm sỏi Guy độ 3, độ 4 có tỷ lệ sót sỏi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sỏi dưới 20 mm (p < 0,05). Trái lại, các yếu tố như chỉ số khối cơ thể và tiền sử từng phẫu thuật mở thận cũ (chiếm 5,0%) không làm gia tăng biến chứng hay làm suy giảm tỷ lệ sạch sỏi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu tai biến khi triển khai tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa kỹ thuật định vị chọc dò đài thận bằng việc ứng dụng siêu âm Doppler màu cho 100% bệnh nhân. Đội ngũ phẫu thuật viên Ngoại Tiết niệu cần chủ động định vị dòng chảy mạch máu thận trước khi đâm kim 18G, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ mất máu nặng cần truyền máu dưới mức 0,5% và ngăn chặn hoàn toàn biến chứng tổn thương mạch máu lớn trong giai đoạn 2023 - 2025.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình kiểm soát áp lực buồng thận và nhiễm trùng đường tiểu trước, trong và sau can thiệp. Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp Khoa Ngoại Tiết niệu áp dụng thường quy phác đồ kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 kết hợp Quinolone đường tĩnh mạch trước phẫu thuật 24 đến 48 giờ cho nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ sốt hậu phẫu từ 6,5% hiện tại xuống dưới 3,5% từ quý III/2024.

Thứ ba, ứng dụng Thang điểm sỏi Guy trên phim cắt lớp vi tính để lập kế hoạch can thiệp cá thể hóa. Đối với các ca bệnh có độ phức tạp GSS độ 3 và độ 4, bác sĩ điều trị cần lập phương án chủ động tán sỏi thì hai sau 5 đến 7 ngày hoặc kết hợp nội soi niệu quản ngược dòng bằng ống soi mềm, nhằm nâng cao tỷ lệ sạch sỏi tổng thể sau một tháng lên trên 92% trong năm 2024.

Thứ tư, đầu tư nâng cấp trang thiết bị y tế và mở rộng chuyển giao công nghệ. Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cần phê duyệt kế hoạch trang bị hệ thống máy tán sỏi laser công suất cao 100W tích hợp cơ chế hút áp lực âm liên tục trong năm 2024, đồng thời định kỳ tổ chức 2 khóa đào tạo chuyển giao kỹ thuật tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ mỗi năm cho các bác sĩ ngoại khoa thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, bác sĩ phẫu thuật Tiết niệu và can thiệp hình ảnh: Khai thác chi tiết các bước tạo đường hầm 18 Fr dưới hướng dẫn siêu âm trong tư thế nằm nghiêng, phương pháp bảo tồn diện vô mạch Brodel và kỹ thuật kiểm soát trường mổ bằng laser Holmium để ứng dụng an toàn trong thực hành lâm sàng.

Thứ hai, học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và học viên chuyên khoa Ngoại: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp hồi cứu - tiến cứu, kỹ thuật lượng giá tổn thương qua thang điểm Guy, phân loại biến chứng Clavien - Dindo và quy trình xử lý số liệu y học nâng cao bằng phần mềm SPSS 25.

Thứ ba, lãnh đạo bệnh viện và các nhà quản lý y tế tuyến tỉnh: Tham khảo hệ thống dữ liệu thực chứng về tỷ lệ sạch sỏi đạt gần 90%, thời gian nằm viện ngắn và mức độ an toàn cao để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, hoàn thiện hồ sơ thanh toán bảo hiểm y tế và phê duyệt đề án đầu tư thiết bị phẫu thuật nội soi.

Thứ tư, bệnh nhân và người nhà người bệnh sỏi thận: Nắm bắt kiến thức y khoa chính xác về tính ưu việt của phương pháp tán sỏi qua da đường hầm nhỏ so với mổ mở truyền thống, hiểu rõ lộ trình phục hồi hậu phẫu để an tâm phối hợp điều trị và tuân thủ tái khám định kỳ.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ có ưu điểm gì vượt trội so với phẫu thuật mổ mở? Phương pháp tán sỏi đường hầm nhỏ tạo đường tiếp cận vào đài bể thận với kích thước chỉ 18 Fr (tương đương 6 mm), giúp giảm thiểu tối đa tổn thương nhu mô thận. Trong tổng số 139 ca nghiên cứu, không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở, lượng máu mất không đáng kể và thời gian nằm viện hậu phẫu rút ngắn chỉ còn từ 3 đến 5 ngày.

Tỷ lệ làm sạch sỏi của kỹ thuật này tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đạt mức nào? Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi sớm trên phim chụp kiểm tra sau phẫu thuật đạt 82,7%, và tăng lên mức 89,2% sau một tháng tái khám kết hợp các can thiệp hỗ trợ. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu quy mô lớn trên thế giới như phân tích gộp của tác giả Qin P đạt 85,17%.

Những yếu tố nào tác động nhiều nhất đến khả năng làm sạch sỏi của phương pháp? Phân tích thống kê khẳng định kích thước sỏi từ 30 mm trở lên, sỏi nằm ở nhiều nhóm đài và điểm số theo thang Guy độ 3, độ 4 là các yếu tố liên quan chặt chẽ đến nguy cơ sót sỏi với p < 0,05. Trong khi đó, các yếu tố thể trạng như chỉ số BMI hay tiền sử mổ mở cũ không làm suy giảm tỷ lệ thành công.

Bệnh nhân từng có tiền sử phẫu thuật mổ mở lấy sỏi thận có thực hiện được kỹ thuật này không? Người bệnh có tiền sử mổ mở hoàn toàn có thể thực hiện can thiệp an toàn. Trong nghiên cứu, 5,0% bệnh nhân có sẹo mổ cũ vùng thắt lưng vẫn được chọc dò tạo đường hầm chính xác dưới hướng dẫn siêu âm, đạt tỷ lệ sạch sỏi tương đương với nhóm chưa từng phẫu thuật và không xảy ra biến chứng thủng tạng hay chảy máu nặng.

Biến chứng thường gặp nhất sau can thiệp là gì và được xử trí như thế nào? Biến chứng ghi nhận phổ biến nhất là sốt nhẹ sau mổ chiếm 6,5% và đái máu vi thể thoáng qua chiếm 4,3%, đều thuộc phân loại Clavien - Dindo độ I và II. Tất cả các trường hợp này đều được kiểm soát ổn định hoàn toàn bằng điều trị nội khoa bảo tồn, truyền dịch và kháng sinh mà không cần can thiệp ngoại khoa lại.

Kết luận

  • Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm là phương pháp can thiệp ít xâm lấn, đạt tỷ lệ sạch sỏi sớm 82,7% và nâng lên 89,2% sau một tháng theo dõi.
  • Kỹ thuật tạo đường hầm 18 Fr ở tư thế nằm nghiêng thể hiện độ an toàn cao với tỷ lệ biến chứng thấp 10,8%, không ghi nhận biến chứng nặng đe dọa tính mạng.
  • Kích thước sỏi từ 30 mm trở lên và điểm sỏi Guy độ 3, độ 4 là các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm sạch sỏi.
  • Luận văn đóng góp hệ thống dữ liệu lâm sàng thực chứng vững chắc, khẳng định năng lực làm chủ kỹ thuật cao tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
  • Kế hoạch giai đoạn 2024 - 2026 sẽ tập trung nâng cấp hệ thống laser công suất cao tích hợp hút áp lực âm và đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới; quý độc giả và đồng nghiệp nên nghiên cứu chi tiết toàn văn đề tài để chuẩn hóa quy trình điều trị tại đơn vị.