Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang thúc đẩy đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, với tỷ lệ dân số sống tại các khu vực đô thị đạt khoảng 55% vào năm 2020. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế đầu tàu với diện tích 2.095 km2 và dân số vượt hơn 8 triệu người, dự báo chạm ngưỡng siêu đô thị 10 triệu dân vào năm 2025. Để giải quyết tình trạng quá tải hạ tầng và phát triển không gian đô thị đa tâm theo 4 hướng vệ tinh với tổng diện tích quy hoạch hàng trăm kilômét vuông, việc thu hồi đất và giải tỏa mặt bằng là yêu cầu tất yếu. Theo Nghị quyết 09/2018/NQ-HĐND, thành phố đã triển khai 28 dự án tại 4 khu đô thị mới với tổng diện tích đất thu hồi lên tới 1.722 ha, di dời hàng chục nghìn hộ dân. Bên cạnh đó, kế hoạch chỉnh trang đô thị thành phố đặt mục tiêu di dời hơn 20.000 căn nhà ven kênh rạch trên toàn địa bàn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực tiễn: đằng sau sự thay đổi diện mạo hạ tầng hiện đại là những cú sốc sinh kế sâu sắc đối với các nhóm dân cư bị thu hồi đất, đặc biệt là nhóm hộ nghèo ven kênh rạch. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện sự biến đổi mức sống, việc làm, thu nhập và chi tiêu của cư dân sau tái định cư; đồng thời phân tích các nhân tố cấu thành sinh kế để đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi cao.

Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát tại chung cư Tân Mỹ, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh - nơi tiếp nhận các hộ dân di dời từ dự án ven rạch Ụ Cây, Quận 8, trong khung thời gian từ tháng 04/2017 đến tháng 02/2019. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi lượng hóa chính xác các chỉ số an sinh, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp chính quyền thành phố tối ưu hóa chính sách bồi thường và hỗ trợ tái định cư bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học chuyên sâu để kiến tạo nền tảng phân tích vững chắc:

Thứ nhất, Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng của Talcott Parsons và Herbert Spencer được sử dụng để luận giải mối quan hệ tương tác giữa thiết chế chính sách của Nhà nước với sự ổn định của các nhóm xã hội. Lý thuyết này cho phép nhận diện rõ chức năng công khai, chức năng ẩn và cả những phản chức năng nảy sinh khi chính sách thu hồi đất đi vào đời sống thực tế của cư dân.

Thứ hai, Lý thuyết Biến đổi xã hội của Auguste Comte và Herbert Spencer định hướng việc xem xét sự dịch chuyển mức sống của cư dân như một quá trình tiến hóa xã hội tất yếu trong lòng đô thị hóa, giúp phân tích cả chiều hướng thích ứng tích cực lẫn suy thoái sinh kế cục bộ.

Thứ ba, Lý thuyết Di dân của Ravenstein cùng mô hình phân tích chi phí - lợi ích giải thích động cơ, lực hút kinh tế và các rào cản thích nghi của dòng di cư nội vùng có tổ chức.

Khung phân tích trung tâm của luận văn là Khung sinh kế bền vững của DFID (1999) đã được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh đô thị hóa. Mô hình này đánh giá sự biến đổi thông qua 5 nguồn lực sinh kế căn bản: nguồn nhân lực (trình độ học vấn, sức khỏe, kỹ năng), nguồn lực xã hội (mạng lưới quan hệ, sự hỗ trợ cộng đồng), nguồn lực tự nhiên (đất đai, vị trí không gian), nguồn lực vật chất (nhà ở chung cư, hạ tầng điện nước) và nguồn lực tài chính (tiền đền bù, thu nhập, khả năng tiếp cận vốn vay). Đi cùng với đó là các khái niệm cốt lõi: Thu hồi đất (theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013), Giải tỏa mặt bằng, Đền bù bồi thường, Tái định cư và Sinh kế bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính (mixed-methods) nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành chọn mẫu khảo sát toàn bộ đối với 114 hộ gia đình nghèo diện giải tỏa rạch Ụ Cây hiện đang thực tế cư trú tại chung cư Tân Mỹ, phường Tân Phú, Quận 7 (trên tổng số 301 hộ được phân bổ suất tái định cư), bao gồm 933 nhân khẩu. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu thực tế này phản ánh chính xác diện mạo nhóm cư dân yếu thế nhất còn bám trụ tại khu tái định cư.

Về phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng hỏi cấu trúc với 114 hộ dân tại thực địa trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/2018 đến ngày 15/01/2019. Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành với 04 đối tượng (01 cán bộ UBND phường Tân Phú, 01 cán bộ Phòng Quản lý đô thị Quận 7, 01 người dân tái định cư và 01 người dân sinh sống lâu năm lân cận). Phương pháp thảo luận nhóm tập trung được tổ chức với 02 nhóm đại diện (nhóm trong độ tuổi lao động và nhóm ngoài độ tuổi lao động). Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2018 của UBND Quận 7, Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê.

Về phương pháp phân tích: Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Tác giả áp dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, thống kê suy luận, phân tích bảng chéo và biểu diễn đồ họa cấu trúc tháp phân tầng. Lý do lựa chọn bộ công cụ này nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ biến động thu nhập, cơ cấu chi tiêu và mức độ tương quan giữa các biến số xã hội học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm từ 114 hộ gia đình với 933 nhân khẩu tại chung cư Tân Mỹ đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ công cộng được nâng cấp vượt bậc. Có 100% hộ dân khẳng định dịch vụ cấp nước sạch tốt hơn nơi ở cũ; 73,2% hộ đánh giá dịch vụ điện lưới sinh hoạt được cải thiện rõ rệt và 40,9% ý kiến ghi nhận điều kiện học hành của con em thuận lợi hơn so với thời điểm sống tại các khu nhà tạm bợ ven rạch.

Thứ hai, xuất hiện hiện tượng sụt giảm thu nhập nghiêm trọng và bẫy chi tiêu sau tái định cư. Có 48,9% chủ hộ khẳng định thu nhập của gia đình kém đi so với trước khi di dời, tỷ lệ này cao gấp 11,37 lần so với nhóm có thu nhập tốt hơn (chỉ đạt 21,3%). Thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng sau tái định cư giảm sút chỉ còn bằng 85,8% so với trước tái định cư. Ngược lại, có tới 87% hộ dân xác nhận mức chi tiêu sinh hoạt tăng cao, với mức chi tiêu bình quân đầu người mỗi tháng tăng 28,8%, khiến chi tiêu chiếm tới 93,3% tổng thu nhập (so với mức 62,1% ở nơi ở cũ).

Thứ ba, cơ cấu lao động chuyển dịch mạnh sang khu vực phi chính thức và lao động phổ thông. Tỷ lệ lao động tham gia lĩnh vực buôn bán - dịch vụ quy mô nhỏ tăng từ 28,8% lên 35,2%, đóng góp tới 36,03% tổng thu nhập của cộng đồng. Lao động phổ thông không ổn định tăng từ 22,1% lên 26,9%. Trái lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giảm từ 19,6% xuống còn 16,2%.

Thứ tư, gia tăng phân hóa xã hội nhưng có xu hướng phục hồi theo thời gian cư trú. Tỷ lệ hộ nghèo tăng từ 4,3% trước tái định cư lên 6,7% sau tái định cư. Tuy nhiên, mức thu nhập bình quân đầu người của nhóm cư dân sinh sống trên 10 năm tại khu tái định cư đạt mức cao hơn 17,1% so với nhóm cư dân mới chuyển đến dưới 5 năm.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm mức sống sau tái định cư được lý giải bởi sự đứt gãy các nguồn lực sinh kế truyền thống. Khi chuyển từ nhà ven kênh sang chung cư cao tầng, người dân mất hoàn toàn mặt bằng kinh doanh vỉa hè, sông nước và các mối quan hệ bạn hàng quen thuộc. Trình độ học vấn của cư dân còn nhiều hạn chế với 42,11% đạt trình độ trung học cơ sở và 28,07% chỉ học tiểu học trở xuống, cùng với 71,05% chủ hộ ở độ tuổi từ 50 trở lên, tạo thành rào cản rất lớn trong việc học nghề hoặc tìm kiếm việc làm tại các khu chế xuất, khu công nghiệp lân cận.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua mô hình tháp phân tầng mức sống và bảng tương quan thu nhập - chi tiêu cho thấy rõ hiện tượng đáy tháp phình to: tổng tỷ lệ nhóm hộ nghèo và tạm đủ tăng vọt từ 26,1% lên 39,6%. Nguyên nhân chi tiêu tăng vọt được 79,1% chủ hộ xác định là do áp lực trượt giá tiêu dùng và 35,8% chỉ ra các chi phí dịch vụ đô thị mới phát sinh (phí quản lý, điện, nước, gửi xe).

So sánh với các nghiên cứu đô thị trong nước, kết quả này hoàn toàn tương thích với các cảnh báo về tổn thương xã hội của nhóm dân cư nghèo đô thị. Việc gia tăng tỷ trọng lao động buôn bán nhỏ vỉa hè thực chất là biểu hiện của tình trạng thất nghiệp trá hình và bán thất nghiệp. Điểm sáng duy nhất là sự phục hồi thu nhập luỹ tiến 17,1% ở nhóm cư dân lâu năm, chứng minh rằng chính sách tái định cư có giá trị an cư dài hạn nhưng đang thiếu hụt trầm trọng các giải pháp trợ lực trong giai đoạn chuyển tiếp 5 năm đầu tiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để bài toán an sinh và sinh kế cho người dân diện giải tỏa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm phù hợp với đặc thù nhân khẩu học. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh cần chủ trì, phối hợp với UBND các quận, huyện thiết kế các khóa dạy nghề ngắn hạn (3-6 tháng) miễn phí, tập trung vào các nghề dịch vụ đô thị, nấu ăn, thủ công mỹ nghệ phù hợp cho lao động trên 40 tuổi; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau tái định cư đạt tối thiểu 75% trong vòng 12 tháng kể từ khi nhận nhà.

Thứ hai, quy hoạch không gian kinh doanh và hỗ trợ mặt bằng thương mại tầng trệt. Sở Quy hoạch - Kiến trúc cùng các chủ đầu tư dự án chung cư tái định cư bắt buộc phải dành tối thiểu 15% đến 20% diện tích sàn thương mại hoặc khuôn viên lân cận để xây dựng ki-ốt chợ dân sinh; áp dụng chính sách giảm 50% giá thuê trong 3 năm đầu cho các hộ từng buôn bán ven kênh rạch, đảm bảo 100% hộ có nhu cầu kinh doanh được bố trí địa điểm buôn bán hợp pháp.

Thứ ba, thiết lập gói tín dụng ưu đãi sinh kế đô thị. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội thành phố Hồ Chí Minh cần triển khai gói vay vốn phục hồi sản xuất với hạn mức từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ, lãi suất ưu đãi thấp hơn 3% so với lãi suất thương mại thông thường, thời hạn vay linh hoạt từ 3 đến 5 năm, ưu tiên xét duyệt cho 100% hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo tại chung cư.

Thứ tư, ban hành chính sách trợ giá dịch vụ đô thị giai đoạn chuyển tiếp. UBND thành phố Hồ Chí Minh cần phân bổ ngân sách hỗ trợ 50% chi phí quản lý vận hành chung cư và áp dụng biểu giá nước, điện sinh hoạt ưu đãi bậc 1 trong thời gian 24 tháng đầu tiên, nhằm kéo giảm tỷ trọng chi tiêu thiết yếu xuống dưới mức 70% tổng thu nhập của hộ gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu chuyên khảo mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách đô thị (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng các quận huyện): Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và bằng chứng định lượng từ 114 hộ dân để làm căn cứ điều chỉnh khung giá đền bù, xây dựng các tiêu chuẩn tái định cư toàn diện theo tinh thần Luật Đất đai mới.

Thứ hai, các chủ đầu tư dự án bất động sản và ban quản lý dự án chỉnh trang đô thị: Tài liệu giúp các nhà phát triển dự án hiểu rõ nhu cầu không gian sống, hạ tầng kỹ thuật và thương mại dân sinh, từ đó ứng dụng vào thiết kế các khu tái định cư đồng bộ, hạn chế tình trạng người dân bán căn hộ chuyển đi nơi khác.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Xã hội học, Đô thị học, Kinh tế phát triển và Quản lý công: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách ứng dụng khung sinh kế bền vững DFID với 5 nguồn lực kết hợp công cụ phân tích dữ liệu SPSS 20.0 trong nghiên cứu các vấn đề xã hội phức tạp.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức hoạt động xã hội vì cộng đồng: Cung cấp góc nhìn thực tiễn sâu sắc về nhóm cư dân ven kênh rạch, hỗ trợ thiết kế các dự án can thiệp sinh kế, hỗ trợ phụ nữ và người cao tuổi thích nghi với môi trường sống đô thị mới.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản nào khiến 48,9% hộ dân bị giảm sút thu nhập sau khi chuyển vào chung cư tái định cư? Nguyên nhân chủ yếu do việc chuyển đổi không gian sống từ nhà mặt đất ven kênh sang chung cư cao tầng làm triệt tiêu hoàn toàn mặt bằng buôn bán nhỏ truyền thống. Kết hợp với trình độ học vấn có tới 70,18% chỉ từ trung học cơ sở trở xuống khiến người lao động khó tiếp cận các công việc chính thức, buộc phải làm công việc phi chính thức bấp bênh, kéo thu nhập bình quân giảm xuống chỉ còn 85,8% so với trước đây.

Khung sinh kế bền vững của DFID được vận dụng đánh giá tác động tái định cư như thế nào? Mô hình DFID cho phép đo lường sự biến đổi đa chiều trên 5 nguồn lực sinh kế: Nhân lực, Xã hội, Tự nhiên, Vật chất và Tài chính. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý: nguồn lực vật chất tăng mạnh với 100% hộ có nước sạch nhưng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực tài chính lại suy giảm sâu, làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của hộ gia đình nghèo.

Tại sao mức chi tiêu sinh hoạt của 87% hộ dân lại tăng vọt sau khi chuyển đến nơi ở mới? Mức chi tiêu bình quân đầu người tăng 28,8% xuất phát từ hai áp lực kép: có 79,1% chủ hộ chịu tác động trực tiếp từ sự trượt giá của chỉ số giá tiêu dùng ngoài thị trường và 35,8% hộ phải chi trả hàng loạt chi phí dịch vụ chung cư mới phát sinh mà trước đây ở nhà ven kênh họ không phải đóng, khiến chi tiêu chiếm tới 93,3% thu nhập.

Quá trình thích ứng sinh kế của cư dân tái định cư biến chuyển ra sao theo thời gian? Sự thích nghi diễn ra theo chiều hướng lũy tiến tích cực. Số liệu phân tích cho thấy nhóm hộ cư trú trên 10 năm đạt mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn 17,1% so với nhóm cư trú dưới 5 năm. Điều này chứng minh cư dân sẽ dần tạo lập được mạng lưới xã hội và chiến lược mưu sinh mới sau khoảng thời gian ban đầu đầy biến động.

Cần ưu tiên giải pháp nào nhất để giảm thiểu nguy cơ tái nghèo cho các hộ giải tỏa rạch ven kênh? Giải pháp đột phá hàng đầu là tích hợp hỗ trợ sinh kế ngay trong thiết kế quy hoạch đô thị. Cần kết hợp đồng thời việc dành 15% diện tích sàn thương mại tầng trệt giá rẻ cho người dân buôn bán, cấp gói vay ưu đãi sinh kế 50-100 triệu đồng và hỗ trợ 50% chi phí dịch vụ trong 24 tháng đầu tiên để bảo đảm an sinh bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh rõ nét tính hai mặt của quá trình đô thị hóa: hạ tầng vật chất đô thị cải thiện với 100% hộ dân tiếp cận nước sạch đạt chuẩn nhưng lại kéo theo sự suy giảm thu nhập của 48,9% cư dân do đứt gãy sinh kế truyền thống.
  • Lượng hóa chính xác sự sụt giảm thu nhập bình quân đầu người xuống còn 85,8% so với trước tái định cư, đồng thời tỷ lệ chi tiêu sinh hoạt gia tăng mạnh mẽ, chiếm tới 93,3% tổng thu nhập hàng tháng của hộ gia đình.
  • Phản ánh trung thực xu hướng chuyển dịch lao động sang khu vực kinh tế phi chính thức, trong đó buôn bán - dịch vụ vỉa hè chiếm 35,2% và lao động phổ thông chiếm 26,9% tổng lực lượng lao động khảo sát.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng thông qua Khung phân tích sinh kế bền vững DFID và phần mềm SPSS 20.0, chỉ rõ sự phục hồi thu nhập luỹ tiến 17,1% của nhóm cư dân sinh sống trên 10 năm tại chung cư Tân Mỹ.
  • Xác lập hệ thống 4 giải pháp chính sách mang tính đột phá về đào tạo nghề, quy hoạch mặt bằng thương mại, gói tín dụng ưu đãi 50-100 triệu đồng và trợ giá dịch vụ trong 24 tháng đầu tiên.

Công trình luận văn thạc sĩ này là nguồn tư liệu khoa học vô cùng giá trị, cung cấp bức tranh toàn diện phục vụ trực tiếp cho kế hoạch di dời và chỉnh trang hơn 20.000 căn nhà ven kênh rạch của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và các cơ quan hoạch định chính sách hãy khai thác và ứng dụng những phát hiện thực nghiệm này để xây dựng những chính sách an dân toàn diện, hướng tới mục tiêu phát triển đô thị văn minh và bền vững.