Vài nét về Tâm lý học phổ thông và Tâm lý học Phật giáo Thích Nữ Hương Nhũ Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động Nguồn: http://vnthuquan.net Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ. Mục lục LỜI NÓI ĐẦU PHẦN MỘT PHẦN HAI PHẦN BA PHẦN BỐN Thích Nữ Hương Nhũ Vài nét về Tâm lý học phổ thông và Tâm lý học Phật giáo LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP LỜI NÓI ĐẦU Trong cuộc sống, có người quan niệm tâm lý là sự hiểu biết về ý muốn, nhu cầu, thị hiếu của người khác, là sự cư xử lý tình huống của một người. Đôi khi người ta còn dùng từ tâm lý như khả năng “chinh phục đối tượng”. Thực ra tâm lý kh6ng chỉ là ý muốn nhu cầu, thị hiếu và cách ứng xử của mọi người, mà nó còn bao hàm vô vàn các hiện tượng khác nữa.
Tâm lý con người luôn gắn liền với từng hành vi cử chỉ. Bất cứ một lời nói cử chỉ hay hành động nào của con người từ đơn giản đến phức tạp nhất cũng đều có mặt tâm lý cả. Theo sách tâm lý dùng trong trường Sư Phạm đã khẳng định : “Tâm lý là đời sống tinh thần của con người”.Các nhà tâm lý học luôn luôn có ý định tìm hiểu cái “đời sống tinh thần” ấy qua các công trình nghiên cứu và trắc đạt. “Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các ngành Tâm lý học tin tưởng vào các kết quả thực nghiệm về tâm lý con người nhằm quan tâm mọi vấn đề trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ của thế gian.
Tâm lý học Phật Giáo có một sự liên hệ chặt chẽ với tâm lý học phổ thông qua sự phân tích các vấn đề tâm thức vô cùng tinh tế. Nhưng niềm ưu tư của Phật Giáo là chữa bệnh hơn là phân tích. Điểm trọng yếu là kết quả thiết thực đối với con người chứ không phải chỉ suy cứu suông có tính cách triết học. Tâm lý học Phật Giáo được xây dựng trên chân lý vĩnh hằng của Dukkha, một trạng thái bất toại nguyện của chúng sanh hữu tình mà Đức Phật đã tuyên bố: “Chỉ có một điều, Như Lai dạy, đau khổ và chấm dứt đau khổ phải đạt đến “Như vậy, Tâm lý học Phật Giáo cũng không ngoài mục đích diệt khổ cho con người.
Đức Phật đặt nặng sự chú ý vào tâm và những hiện tượng tâm linh là vì đời sống nội tâm có một vai trò quyết định làm phát khởi hành động của con người. An lạc hay đau khổ đều do cái tâm mà thôi. Tâm lý học Phật Giáo hướng dẫn ta vào đường lối phân biệt và khảo sát nhằm khuyến khích mỗi người tự phát triển năng lực và phẩm chất nội tâm. Tìm hiểu Tâm lý học phổ thông và Tâm lý học Phật Giáo là hấp dẫn và hữu ích.
Dù người viết chưa nghiên cứu một cách tường tận các vấn đề tâm thức cũng như chưa có sự chứng đạt tâm linh nào để có thể thấy sâu vào bên trong những sinh hoạt nội tâm bằng trí tuệ minh sát, nhưng với tinh thần của một sinh viên tập làm một đề tài khoa học người viết quyết định chọn vấn đề Tâm lý học trong khảo luận tốt nghiệp này. Bài viết sẽ giới thiệu vài nét về Tâm lý học Phật Giáo để thấy rõ hơn rằng Tâm lý học Phật Giáo có liên hệ với tâm lý học phổ thông, nhưng có những điểm khác biệt căn bản về nguyên lý của sự tư duy, quan niệm về cấp độ nhận thức; Người viết sẽ trình bày về các yếu tố cấu hợp thành phần tâm linh và so sánh với Tâm lý học phổ thông do tầm quan trọng của chúng ta đối với cơ chế hoạt động tâm lý con người. Sau hết xin được khẳng định: Sự an lạc nội tâm và hướng dẫn được nội tâm chỉ có thể đạt được qua công trình tự quán chiếu dựa trên đức hạnh trong sạch và Thiền tập. Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, con xin thành kính ghi ân: Thượng Toạ Thích Chơn Thiện.
Tiến sĩ Phật học. Giáo Sư Trần Tuấn Lộ Tiến sĩ Tâm lý học Đã khích lệ và tận tình hướng dẫn con trong quá trình thực hiện đề tài. Trân trọng ghi ân Giáo sư Minh Chi và các tác giả của những tác phẩm đã cung cấp tư liệu cho luận văn tốt nghiệp. NS Thích Nữ Hương Nhũ Thích Nữ Hương Nhũ Vài nét về Tâm lý học phổ thông và Tâm lý học Phật giáo LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHẦN MỘT DẪN NHẬP Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã và đang diễn ra ở quy mô toàn thế giới với mộc tốc độ chưa từng thất.
Cuộc cách mạng ấy đã làm thay đổi về căn bản tính chất và nội dung lao động của con người. Con người phải đứng trước các yêu cầu về chức năng trí tuệ, các phẩm chất ý chí, tình cảm, các quá trình tâm lý và tính sáng tạo của tư duy. Thêm vào đó là một cuộc sống quá sung mãn về vật chất nhưng vẫn không có được niềm an lạc, hạnh phúc vĩnh hằng (mà họ cứ ngỡ rằng vật chất sẽ đem lại) Niềm hạnh phúc trên thế gian mong manh như làn khói quyện, như áng mây trôi. Bên cạnh đó, sự sợ hãi, lo lắng, bệnh tâm thần do bất toại nguyện khôn ngừng phát sinh do ảnh hưởng các điều kiện trần thế, bắt nguồn từ tham dục và luyến ái.
Cuộc sống bất an do sợ hãi thất vọng đem lại các chứng của bệnh tâm thần. Một nhà tâm lý học đã khẳng định: “Chúngta tự hào là đã ngự trị được thiên nhiên, nhưng chúng ta vẫn là nạn nhân của thiên nhiên bởi vì chúng ta chưa học được cách chế ngự bản thân của chúng ta. Dần dần nhưng chắc chăn, chúng ta tiến đến tai hoạ"[1] Như vậy các cứng tâm thần cần phải được chế ngự và trị liệu. Sự chọn lựa tinh thần tiêu cực hay tích cực hoàn toàn do chính chúng ta.
Mỗi con người đều có khả năng kiểm soát tinh thần mình. Trong cuộc sống hiện đ5i này, con người nếu không biết điều hợp tâm lý mình cho thích đáng chắc chắn sẽ bị rối loạn khủng hoảng, dễ dàng đưa đến ý nghĩ và hành động tiêu cực: “Khónắm giữ, khinh động Theo các dục quay cuồng Lành thay điều phục tâm Tâm điều an lạc đến” [2] Người trí phải biết điều hoà tâm, điều phục tâm. Phải biết rõ sự sinh khởi, vị ngọt sự nguy hiểm và sự xuất ly của từng trạng thái cảm thọ của tâm thức. Phương pháp căn bản của đạo Phật là quán xét nội tâm, nhìn thẳng vào nội tâm.
Cái lối quay nhìn vào trong, lấy lòng tự xét lòng này trường phái Hành vi luận (Beheviourism) phê phán rằng nào có khác chi “đứng sau cửa sổ mà nhìn chính mình đi qua” Chỉ trích phương pháp quán nội tâm không có khả năng tách biệt chủ thể đi tìm hiểu với sự vật được quan sát. Quả là hành vi luận “đã nêu lên một vấn đề: truyền đạt cho người khác những sự kiện nội tâm -vốn là cái rất riêng tư thầm kín của mỗi cá nhân. Có thể được hay chăng? Đối với một nền tâm lý học có tham vọng khách quan như tâm lý học Tây phương thì vấn đề cáng trở nên nan giải. Nhưng đạo Phật đã không đặt trọng tâm lý học của mình nơi điểm đó.
Rất thực tế, chỉ nhằm cho chúng ta có thể tự biết lấy mình để làm chủ được trạng thái tâm thức của mình và có thể thoát khỏi khổ đau. Nếu có những phương tiện khác dễ dàng hơn, hoặc hiệu nghiệm hơn để trừ diệt khổ, thì không ai sẽ cần bàn đến triềt học. Murti-triết gia người Ấn đã nói: “Sựtin chắc rằng những phương tiện của thế gian không phải là những phương thuốc chữa trị mà chỉ để làm siết chặt thêm nanh vuốt của sinh tử khổ đau nơi chúng ta, rằng chỉ có tuệ giác mới có thể diệt được cội gốc của khổ, và đó chính là khởi điểm của kỷ luật tâm linh” [3] Tâm lý học Phật giáo khẳng định con người là một tiến trình DANH – SẮC luôn luôn biến chuyển mà yếu tố quan trọng nhất nằm trong tiến trình TÂM. Kiểm soát tâm là trung tâm điềm, là nồng cốt của giáo pháp về những lời d5y của Đức Phật.
Hạnh phúc có được phải do những yếu tố tinh thần bên trong tâm thức của ta. Khi tâm nhơ uế thì không thể thành tựu điều chi đáng giá. Vì lẽ ấy, Đức Phật rất chú trọng đến trạng thái trong sạch của tâm. Xem đó là điều kiện thiết yếu để tạo hạnh phúc thật sự và đưa đến giải thoát mọi khổ đau.
Tất cả những giáo lý chánh yếu trong Phật giáo như nghiệp báo, nhân quả và tái sanh, pháp hành Thiền và những thành quả tinh thần được nghiên cứu, nghiền ngẫm khảo sát như những sinh hoạt của tâm và như vậy Phật giáo được xem là một môn học về tâm lý thiết thực và trí tuệ nhất. Trong khi tâm lý học phổ thông định nghĩa cái tâm bằng những danh từ TỊNH qua những công trình nghiên cứu và trắc đạt, thì tâm lý học Phật giáo bằng trí tuệ minh sát đã định nghĩa đời sống tâm linh bằng những danh từ ĐỘNG, các vấn đề tâm thức được đem ra giải thích cặn kẽ hoàn toàn. Những sinh hoạt của tâm được đề cập trong Phật giáo đầy đủ hơn bất luận tôn giáo nào. Cho nên tâm lý học cùng sinh hoạt chung với Phật giáo nhiều hơn bất cứ tôn giáo nào khác.
Trong kinh điển Phật giáo, hơn mười lăm thế kỷ qua đã có ít nhất ba tạng luận về các vấn đề tâm lý được hình thành như là; Thắng pháp luận của Thượng toạ bộ, A TỲ Đạt Ma ca6u Xá Luận, của Nhứt thiết hữu bộ, Duy thức luận của Đại thừa. Tất cả đều phân tích tâm lý và chia tâm con người thành các nhóm thiện tâm, bất thiện tâm và phi thiện, phi bất thiện tâm. Tất cả đều nối kết thiền định làm phương tiện để chứng ngộ cái tâm con người và để giải thoát khổ đau. Tuy nhiên, qua sự học tập kinh tạng Nikàya, chúng ta tin chắc rằng phần tâm lý cũng đóng một vai trò quan trọng trong tạng kinh (Sutta Pitaka).
Vấn đề tâm lý được giới thiệu qua nhiều hình thức khác nhau: sáu xứ, mười hai xứ, mười tám giới, năm thư uẩn và duyên khởi. Ngoài ra những gì Đức Phật cần nói về bản chất của tâm, phương pháp thanh lọc tâm và làm chủ tâm đã được truyền dạy trong những bài giảng của tạng Kinh như bài Kinh Tứ niệm xứ (satipatthana suttam), Đại phương quảng (Mahavedala suttam), An trú tầm (vittakkhasanthana suttam).