mở đầu và kết thúc không rõ ràng [17] bao gồm: a. Chú ý: là sự định hướng tích cực của ý thức con người vào một số đối 10 tượng hoặc hiện tượng nhất định. Xúc cảm và tình cảm: là hiện tượng tâm lý ổn định của con người đối với hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của hiện thực khách quan đối với mối liên hệ về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người. Xúc cảm thể hiện tâm lý mức thấp, tình cảm thể hiện tâm lý ở mức cao.
Các loại tình cảm * Tình cảm đạo đức: là thái độ của con người đối với các yêu cầu đạo đức trong xã hội, trong các quan hệ hoạt động (lòng yêu nước, niềm tin, lẽ sống, lương tâm, danh dự; chữ tín trong kinh doanh v. * Tình cảm trí tuệ: là thái độ của con người trong sự khao khát hiểu biết, tìm tòi chân lý, sáng tạo cái mới, chấp nhận sự khác biệt (như hứng thú nghề nghiệp, thái độ hoài nghi trong học hỏi; cá tính trong nghiên cứu, làm việc v. * Tình cảm thẩm mỹ: là thái độ của con người trước cái đẹp và cái xấu, cái tốt và cái không tốt, cái đúng và cái sai (ví dụ lòng tự hào hay tự ty về dân tộc, cung cách thưởng thức âm nhạc, v.) * Tình cảm hoạt động: là thái độ làm việc của con người, là tích cực (chủ động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm) hay thụ động (trông chờ, ỉ lại, lười biếng. Tình cảm tạo ra động lực hoặc phản động lực cho con người trong các hoạt động của mình.
Nhờ có tình cảm đúng đắn sẽ giúp cho con người phân biệt được đúng sai, phải trái, tốt xấu để điều chỉnh hành vi của mình. Vai trò: xúc cảm, tình cảm tích cực tạo hiệu quả làm việc từ 10 – 20% và ngược lại. Các quy luật của đời sống tình cảm e1. Hứng thú: là tình cảm thoả mãn, yêu thích nổi trội một lĩnh vực hoạt động nào đó khiến cho con người luôn chú ý tập trung ở mức độ cao về lĩnh vực đó.
Quy luật lây lan: là tình cảm mang tính bắt chước, thông qua tác động của của dư luận, môi trường, tập thể, v. Quy luật thích nghi: là tình cảm thích ứng với những biến đổi của môi trường xung quanh. Quy luật tương phản: là những tình cảm gây ra hiệu ứng đột biến trước sự vật và hiện tượng (tích cực hoặc tiêu cực). Trạng thái tâm lý được hình thành từ xúc cảm, tình cảm và ý chí cho nên có thể nói các trạng thái tâm lý là hiện tượng tâm lý bắc cầu giữa các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý, nó bao gồm các quá trình cảm xúc và quá trình lý trí.
Để làm bất cứ một công việc gì, con người phải có cả hai quá trình cảm xúc (cơ bản là tình cảm) và lý trí (cơ bản là sự hiểu biết mang tính khoa học). Các thuộc tính tâm lý: là các hiện tượng tâm lý hình thành một cách lâu dài và được lưu giữ rất lâu (thậm chí có khi suốt đời) tạo thành nét riêng có của nhân cách con người, chi phối lên hoạt động, hành vi, thái độ của họ. Thuộc tính tâm lý bao gồm rất nhiều nhân tố: a. Hoạt động: là sự tiêu hao năng lượng cơ thể của con người để giúp con người tồn tại trong thế giới hiện thực.
Đặc điểm của hoạt động là: - Có đối tượng (để tác động) - Có chủ thể (người gây ra hoạt động) b. Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên hoặc đã qua chế biến cho phù hợp với nhu cầu của bản thân, với tên gọi là sản phẩm. Như vậy, sản phẩm là kết quả của lao động và thường được cho dưới dạng đồ vật (hàng hóa) hoặc dịch vụ. Hành động: là quá trình hoạt động để đạt tới một mục đích đã định.
Ý chí: là phẩm chất tâm lý cá nhân, biểu hiện bằng năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có một sự cố gắng lớn để khắc phục trở ngại, khó khăn mới đạt được. Hành động tự động hóa (vô thức, quán tính): là hành động thoạt đầu có 12 ý thức và ý chí; nhưng do được lặp lại nhiều lần, được tập luyện thuần thục trở thành tự động, không cần có sự chi phối của ý chí. Kỹ năng: là một hệ thống các hành động, các biện pháp, các kỹ thuật mang tính chuyên ngành mà nhờ đó một dạng hoạt động chuyên môn hóa nào đó được thực hiện. Kỹ xảo: là loại hành động tự động hóa một cách có ý thức nhờ tập luyện.
Thói quen: là loại hoạt động tự động hóa cao độ và trở thành nhu cầu của con người. Nhu cầu: là trạng thái tâm lý căng thẳng khiến con người cảm thấy thiếu thốn về một cái gì đó và mong được thoả mãn nó. Trong quản trị kinh doanh nhu cầu có tầm quan trọng rất lớn vì nếu không nắm được nhu cầu của khách hàng và người lao động sẽ khó có thể thành công lớn. Nhu cầu là một trong các động cơ hành động quan trọng của con người.
Maslow (nhà tâm lý học người Mỹ), nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp đến cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa (Sơ đồ 5). Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu về an toàn Nhu cầu về sinh lý (vật chất) Sơ đồ 5. Phân cấp nhu cầu theo A.Maslow 13 - Nhu cầu về sinh lý (vật chất) là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở …).
- Nhu cầu về an toàn là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc, mất tài sản. - Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. - Nhu cầu được tôn trọng: theo A.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
- Nhu cầu tự hoàn thiện: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt với mức độ tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó.Maslow quan niệm rằng khi những nhu cầu bậc thấp hơn chưa được thỏa mãn thì những nhu cầu khác ở bậc cao hơn sẽ không thể là động lực thúc đẩy mọi người làm việc. Như vậy, theo lý thuyết này, thì trước tiên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải quan tâm đến các nhu cầu vật chất, trên cơ sở đó mà nâng dần lên các nhu cầu bậc cao.
* Theo Clayton Alderfer - giáo sư Đại học Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của A.Maslow và đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: Hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu - cũng giống như các nhà nghiên cứu khác - song ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. - Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của A. - Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs): là những đòi hỏi về quan hệ tương 14 tác qua lại giữa các cá nhân.
Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng (được tôn trọng). - Nhu cầu phát triển (Growth needs) là đòi hỏi bên trong của mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người khác). Điều khác biệt ở học thuyết này là C.Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu chứ không phải một nhu cầu như quan điểm A. Hơn nữa, học thuyết này còn cho rằng khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn của các nhu cầu khác.
Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn. Nhu cầu lành mạnh thì xã hội chấp nhận và dễ thoả mãn, còn nhu cầu không lành mạnh cần phải bị hạn chế, xoá bỏ. Các hiện tƣợng tâm lý có ý thức: là các hiện tượng tâm lý bậc cao của con người với đầy đủ các đặc tính vốn có, bao gồm: a.
Định nghĩa: Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý bậc cao của con người nhằm nắm bắt được bản chất của hiện thực khách quan để hành động đạt được mục tiêu (nó cũng gần giống với sự chú ý đã xét). Đặc điểm: - Ý thức là tâm lý có sự hiểu biết - Ý thức là tâm lý có sự rung cảm để hướng hành động đến mục đích ứng với sự hiểu biết. - Ý thức là tâm lý có chủ định, có chủ tâm, có dự kiến trước. Niềm tin: là kết tinh của tri thức, là xúc cảm, ý chí đã được mỗi người thể nghiệm và trở thành chân lý bền vững của mình (ví dụ: niềm tin rằng nếu cố 15 gắng vươn lên sẽ đạt được kết quả tốt đẹp, v.
Lý tưởng: là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực và tương đối hoàn chỉnh, lôi cuốn con người (hứng thú cao) vươn tới để đạt lấy (ví dụ: lý tưởng xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh). Thế giới quan: là một hệ thống các quan điểm, niềm tin về tự nhiên, xã hội, bản thân, tạo thành phương châm, nguyên tắc hành động của con người. Mong muốn: là nhu cầu mà con người muốn ưu tiên được giải quyết trước.